1. Khi nào thì xem là nợ xấu?
Nợ xấu là một thuật ngữ thường được sử dụng trong lĩnh vực tài chính để mô tả những khoản nợ mà có khả năng cao là không thể thu hồi được hoặc gặp khó khăn trong việc thu hồi. Thông thường, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi người nợ không thể trả nợ đúng hạn hoặc không thể trả nợ một cách đầy đủ và làm tăng nguy cơ mất mát cho người cho vay.
Tuy nhiên, việc xác định một khoản nợ cụ thể là nợ xấu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm loại hợp đồng vay, điều kiện của người vay, tình hình kinh tế và nhiều yếu tố khác. Một khoản nợ có thể được coi là xấu nếu người vay đã vượt quá năng lực trả nợ của mình trong một khoảng thời gian dài hoặc nếu có dấu hiệu rõ ràng của việc không trả nợ. Các tổ chức tài chính thường thực hiện đánh giá định kỳ của các khoản nợ để xác định xem chúng có nên được phân loại là "xấu" hay không. Điều này giúp họ đưa ra các biện pháp cần thiết để giảm thiểu rủi ro và bảo vệ tài sản của mình.
Cũng cần phải hiểu nợ xấu là một phần, bộ phận hay một giai đoạn của nợ quá hạn. Nợ quá hạn theo quy định tại khoản 6 Điều 3 của Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 năm 2021 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Thì khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đối với khoản cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng, khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng sử dụng thẻ không trả được nghĩa vụ trả nợ đến hạn thanh toán của mình theo thỏa thuận phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ tín dụng với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Còn nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.
Như vậy có thể hiểu khi khách hàng không trả được đúng hạn (kể cả trả được một phần hoặc toàn bộ) thì khách hàng được coi là vi phạm hợp đồng, thỏa thuận với các tổ chức tín dụng. Khi đó khoản nợ của khách hàng sẽ bị coi là khoản nợ quá hạn, khoản nợ quá hạn đó chỉ được coi là nợ xấu nếu nó thuộc các nhóm nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 trong phân loại các khoản nợ theo quy định của ngân hàng nhà nước.
2. Phân loại các nhóm nợ xấu theo quy định mới nhất năm 2024?
Theo quy định tại Điều 10 của Thông tư số 11/2021/TT-NHNN có phân loại các nhóm nợ thành 5 nhóm, cụ thể như sau:
- Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
+ Khoản nợ trong hạn là những khoản nợ được trả đúng hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
+ Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày: Mặc dù đã quá hạn nhưng không quá 10 ngày, và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn, cũng như thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn.
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định Có thể có các trường hợp đặc biệt hoặc các yếu tố khác đưa một khoản nợ vào nhóm 1.
- Nhóm 2: Nợ cần chú ý
+ Khoản nợ quá hạn đến 90 ngày: Là các khoản nợ đã quá hạn đến 90 ngày, ngoại trừ các trường hợp đã được quy định trong nhóm 1.
+ Khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn: Các khoản nợ này đã được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu và vẫn còn trong hạn, ngoại trừ các trường hợp đã được quy định trong nhóm 2.
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định: Có thể có các trường hợp đặc biệt hoặc các yếu tố khác đưa một khoản nợ vào nhóm 2.
- Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, trừ khoản nợ theo quy định;
+ Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn, trừ khoản nợ theo quy định;
+ Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận, trừ khoản nợ theo quy định;
+ Khoản nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi:
Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung);
Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung);
Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung);
+ Khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra;
+ Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định;
+ Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định.
- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
+ Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày: Các khoản nợ đã quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, trừ các trường hợp đã được quy định trong các điểm trước.
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày: Các khoản nợ đã được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu và đã quá hạn từ 91 ngày trở lên, trừ các trường hợp đã được quy định trong các điểm trước.
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai còn trong hạn: Các khoản nợ đã được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ hai và vẫn còn trong hạn, trừ các trường hợp đã được quy định trong các điểm trước.
+ Khoản nợ chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi: Các khoản nợ đã được quyết định thu hồi nhưng vẫn chưa thu hồi được trong khoảng thời gian này.
+ Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra đến 60 ngày mà chưa thu hồi được: Các khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng vẫn chưa thu hồi được trong khoảng thời gian này.
+ Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi: Các khoản nợ đã được quyết định thu hồi trước hạn nhưng vẫn chưa thu hồi được trong khoảng thời gian này.
- Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
+ Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày: Các khoản nợ đã quá hạn trên 360 ngày, biểu thị rủi ro cao về việc mất vốn.
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên: Các khoản nợ đã được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu và đã quá hạn từ 91 ngày trở lên.
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn: Các khoản nợ đã được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ hai và đã quá hạn.
+ Khoản nợ chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi: Các khoản nợ đã được quyết định thu hồi nhưng vẫn chưa thu hồi được trong khoảng thời gian này.
+ Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được: Các khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng vẫn chưa thu hồi được trong khoảng thời gian này.
+ Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi: Các khoản nợ đã được quyết định thu hồi trước hạn nhưng vẫn chưa thu hồi được trong khoảng thời gian này.
+ Khoản nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang bị phong tỏa vốn và tài sản: Đây là các khoản nợ của các tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang ở trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc bị phong tỏa vốn và tài sản, điều này tạo ra nguy cơ mất vốn lớn.
Việc phân loại nợ vào các nhóm này giúp các tổ chức tài chính hiểu rõ hơn về rủi ro của các khoản nợ trong quản lý tín dụng và đưa ra các quyết định phù hợp để giảm thiểu rủi ro và bảo vệ tài sản.
3. Nợ quá hạn 100 ngày chưa thanh toán có được xem là nợ xấu?
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày được phân loại vào Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn.
Do đó, khi một khoản nợ đã quá hạn 100 ngày, nó sẽ thuộc vào Nhóm 3 này. Nhóm 3 theo quy định được xem là nợ xấu theo quy định của pháp luật.
Nhóm 3 thường được coi là một tín hiệu cảnh báo đối với tổ chức tín dụng, vì nó chỉ ra rằng người nợ đã gặp khó khăn trong việc trả nợ. Tuy nhiên, không phải tất cả các khoản nợ trong Nhóm 3 đều được xem là "xấu" ngay lập tức. Việc đánh giá nợ có khả năng thu hồi được hay không sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm tình hình tài chính của người nợ, khả năng thanh toán trong tương lai, và các biện pháp khắc phục mà người nợ có thể thực hiện.
Ngoài nội dung bài viết trên quý khách hàng có thể tham khảo bài viết có nội dung tương tự tại địa chỉ sau: Nợ xấu có vay được ngân hàng chính sách không?
Nếu quý khách có bất kỳ vấn đề nào liên quan đến nội dung bài viết hoặc pháp lý, chúng tôi khuyến khích quý khách liên hệ trực tiếp đến hotline tel: 19006162 hoặc gửi email tới địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Đội ngũ chuyên viên của chúng tôi sẽ sẵn lòng hỗ trợ và giải quyết mọi thắc mắc của quý khách một cách tận tâm và chuyên nghiệp.