1. Nợ thuế có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Chào Luật Sư, xin hỏi: Mình có 1 vấn đề nhờ Luật Sư tư vấn giúp. Công ty TNHH MTV phá sản nợ thuế thì có bị truy cứu hình sự không ?
Xin Luật Sư tư vấn giúp.Xin Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Pháp luật đã có những quy định về hành vi nợ thuế. Theo đó, khi doanh nghiệp nợ thuế sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế. Khi doanh nghiệp phá sản, Khoản nợ thuế là khoản được ưu tiên thanh toán.Trách nhiệm hình sự được đặt ra khi doanh nghiệp thực hiện hành vi trốn thuế. Theo đó, tội trốn thuế được quy định tại Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 như sau:

Điều 200. Tội trốn thuế
1.152 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;
b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;
c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;
d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;
đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;
e) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
g) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
h) Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
i) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
5.153 Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Công ty chỉ có nợ thuế mà không có hành vi trốn thuế nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và khung hình phạt ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

2. Đòi lại tiền cho vay đã quá hạn trả nợ như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có cho 1 người vay 100 triệu từ năm 2012 có viết giấy vay nhưng là giấy có mẫu in sẵn đánh máy nhưng đã quá hạn để trả nợ tôi có đòi nhưng người ta cứ khất lần để trả dần và hiện tại tôi chưa nhận được một phần nào của 100 triệu xin hỏi luật sư tôi có được khởi kiện không và toà án có xử lý để người kia bồi hoàn lại số tiền đã vay của tôi không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

=>> Bạn có thể kiện được vì giấy vay nợ đó chính là bằng chứng về việc người đó nợ bạn. Khi nợ quá hạn mà người đó không chịu trả tiền thì bạn có thể khởi kiện dân sự yêu cầu người đó thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi làm nhân viên tư vấn bảo hiểm vào năm ngoái tôi có làm việc với một khách hàng là công an.Trong quá trình làm hợp đồng đã đi đến việc tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của BV. Do khách hàng không có đủ tiền để nộp phí đóng năm đầu nên tôi đã ứng tiền của mình ra đóng hộ khách hàng năm đầu tiên,do tin tưởng nên tôi đã không làm giấy vay nợ chỉ có thỏa thuận miệng,và cũng có giấy biên nhận là khách hàng giao tiền cho tôi,nay khách hàng có ý bùng tiền của tôi.Vậy tôi mong luật sư cho tôi biết có cách nào giúp tôi đòi lại được tiền của mình không.

Vì bạn không làm giấy vay nợ với khách ahnfg nên bạn cần phải có bằng chứng khác như băng ghi âm, ghi hình chứng minh việc bạn giao tiền cho người đó. Nếu bạn không có gì chứng minh bạn không thể khởi kiện được.

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi trước đây có cho một người khác mượn với số tiền là 900 triệu đồng, nay bên vay đã trả đầy đủ lời và vốn là 400 triệu. Vẫn còn thiếu 500 triệu còn lại. Nhưng vì 1 số lý do nào đó mà bên vay lại không còn chi trả lại cho chúng tôi. Giấy nợ đã hết hạn và chúng tôi muốn luật pháp can thiệp vào việc này. Cho tôi hỏi là có được không và chúng tôi nên làm những gì?

Bố bạn nên khởi kiện công ty để đòi lại tiền.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có người bạn làm buôn bán tạp hoá. Cô ấy có cho người quen mua nợ với số tiền là 10 triệu đồng nhưng không có hoá đơn mà chỉ nói miệng và cũng người này mượn tiếp số tiền là 10 triệu đồng nữa cũng không có làm giấy vay mượn nhưng lúc giao tiền thì có người thấy và có thể làm chứng. Hiện nay người đó đã bỏ về quê dù đã nhiều lần liên lạc nhưng người này vẫn chây ỳ cố tình không trả. Xin hỏi luật sư trường hợp này phải xử lý như thế nào ạ?

=> Trường hợp này người đó đã bỏ về quê và cố tình không trả tiền cho bạn vậy người này có yếu tố lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bạn có thể khởi kiện để yêu cầu người đó trả tiền cho bạn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Lúc trước khi mất thì mẹ e có vay mượn tiền (bao gồm của công ty tài chính có hợp đồng 36 kỳ,đã trả 18 kỳ ),ngoài ra còn có những khoản nợ không giấy tờ khác như tiền hụi ,tiền mượn cá nhân (có giấy nợ theo e biết đã trả nhiều kỳ nhưng ko có giấy xác nhận đã trả bao nhiều kỳ).Giờ mẹ e đã mất(ko có tài sản để lại) thì e có nghĩa vụ phải trả những khoản nợ trên ko?nếu có thì phải trả những khoản nào?

Giờ mẹ bạn đã mất mà không có tài sản bạn được thừa kế thì bạn không có nghĩa vụ thực hiện những khoản nợ của mẹ bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Vay tiền trả góp bị quá hạn thanh toán thì phải chịu trách nhiệm gì ?

3. Bỏ trốn không trả nợ chịu trách nhiệm gì ?

Kính chào Luật sư! Luật sư cho em hỏi, em có cho 1 người quen vay số tiền là 100 triệu với lãi suất 7%/tháng thì có vi phạm về mức lãi suất theo quy định của pháp luật không ? Và khi vay số tiền trên em có làm giấy chứng nhận người đó nợ em với số tiền 100 triệu có công chứng và giữ giấy tờ nhà của người này nhưng không đề cập đến mức lãi suất trong nội dung văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng miệng.
Vậy nếu như người này bỏ trốn và không trả nợ thì em có thể làm gì và giấy tờ nhà đó em có quyền sử dụng hay mua bán được không ạ ?
Em xin cám ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật dân sự 2015 quy định về lãi suất như sau:

Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Như vậy với mức lãi suất 7%/ tháng đã vi phạm quy định về mức lãi suất trong dân sự do cao hơn 20%/ năm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu mức vi phạm vượt quá 5 lần mức lãi suất cho phép.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Tội trốn thuế theo quy định mới nhất của luật hình sự

4. Tư vấn khởi kiện đòi nợ hợp pháp ?

Chào luật sư Đầu tiên kính chúc luật sư nhiều sức khoẻ và thành công hơn nữa. Em co một số thắc mắc rất mong được luật sư tư vấn giúp ạ. Em là sinh viên mới ra trường và có nhờ một anh A chạy việc. Anh A này làm ở toà án(đang là thư ký). Sau đó em giao tiền cho anh A và có giấy viết tay( không có người làm chứng) (giấy này với tính chất là anh A này vay tiền cuả em, không lãi) "số tiền là 40,000,000" Ngoài ra mỗi lần gọi điện thoại cho anh A này em luôn ghi âm lại và cả tin nhắn nữa. Thời hạn là 3 tháng đến 30/7/2015. Bây giờ đã đến hạn trả nhưng anh A dây dưa không chiụ trả.
Vậy, xin hỏi luật sư trong trường hợp này em có nên khởi kiện đòi trả không? (vì anh A ,này làm ở toà án đó nên em sợ họ gây khó dễ) .
Thứ hai là nếu em khởi kiện em có nên nói ra tính chất thật cuả sự việc( là em đưa tiền chạy việc không?) Nếu em tố cáo đúng bản chất của là dùng tiền để chảy việc thì liệu em có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "đưa hối lộ" không ạ? Có cách nào hay hơn để đòi lại tiền không luật sư?
Rất mong được sự giải đáp cuả luật sư. Xin trân thành cảm ơn luật sư ạ!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Đối với trường hợp của bạn chúng tôi xin đưa ra phân tích theo hai hướng sau để bạn có thể cân nhắc và lựa chọn phương án đòi lại tiền cho mình.

Hướng thứ nhất bạn công khai mục đích chuyển tiền là để chạy việc.

Căn cứ theo Điều 123 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Giao dịch giữa gia đình bạn và người bạn nhờ có mục đích là dùng tiền bạc bằng cách nào đó " lo lót " để chạy việc cho bạn dễ dàng hơn những người khác hay có nghĩa là dùng tiền để xin được việc, vì thế xét về khía cạnh chuẩn mực đạo đức xã hội pháp luật không bảo về những giao dịch như vậy. Và cũng theo Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015 như trên đã trích thì đó là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu. Như vậy bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chạy việc này vô hiệu và theo quy định tại bộ luật dân sự 2005 thì sau khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu thì các bên phải hoàn trả lại những gì đã nhận và khôi phục lại tình trạng ban đầu.

Tuy nhiên, việc dùng tiền để xin việc này cũng có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ căn cứ theo Điều 364 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 364. Tội đưa hối lộ
1. Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
6. Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.
7. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Đưa hối lộ được hiểu là hành vi của người đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác (trực tiếp hoặc qua trung gian) để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Người đưa hối lộ là người có lợi ích liên quan đến việc làm hay không làm của người có chức vụ, quyền hạn. Lợi ích này có thể là lợi ích trực tiếp của người đưa hối lộ hoặc là lợi ích của người thân quen, bạn bè hoặc cũng có thể là lợi ích của một tập thể mà người đưa hối lộ là đại diện. Theo đó hành vi của bạn đó là dùng số tiền mà mình đã chuyển cho người có quyền hạn chức vụ ở đây là cán bộ thư kí tòa án đã cấu thành đủ các yếu tố của tội đưa hối lộ theo LHS. Tuy nhiên theo khoản 7 Điều 364 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 nếu bạn chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Như vậy nếu công khai mục đích chuyển số tiền như trên bạn hoàn toàn có thể đòi lại tiền cho mình và có thể không bị truy cứu TNHS nếu khai báo trước khi bị phát giác.

Hướng thứ hai bạn không công khai mục đích chuyển tiền của mình.

Nếu không công khai mục đích chuyển tiền dùng để chạy việc thì dựa trên giấy tờ viết tay ở đây được coi là hợp đồng vay tiền mà bạn đã nêu trên bạn vẫn có thể khởi kiện yêu cầu đòi lại số tiền đã cho vay, trong giấy tờ viết tay này nếu không có thời hạn trả tiền thì sẽ được xác định là hợp đồng vay tài sản không kì hạn nên bạn có thể đòi lại số tiền này bất cứ lúc nào căn cứ theo Điều 469 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 469. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn
1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

Vậy ở đây cách tốt nhất để đòi lại được số tiền theo tôi nghĩ đó là bạn nên nói chuyện thương lượng lại với người đã nhận số tiền để chạy việc trên. Bạn có thể dùng những lập luận dựa trên căn cứ pháp luật nêu trên để giải thích với người này đặc biệt lại là cán bộ của cơ quan nhà nước thì càng không được phép có những hành vi trên và việc khởi kiện ra toàn là bất lợi nhiều hơn về phía người đã nhận tiền.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.0159

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Không có giấy vay tiền có khởi kiện đòi nợ được không ? Con nợ bỏ trốn có đòi được không ?