Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm Luật thương mại phạm vi điều chỉnh và chủ thể của Luật thương mại
- 1.1 Khái niệm luật thương mại
- 1.2 Phạm vi điều chỉnh của luật thương mại
- 1.3 Chủ thể của luật thương mại
- 2. Khái niệm luật dân sự và phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự?
- 2.1 Khái niệm luật dân sự?
- 2.2 Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật Dân sự?
- 3. Về tính chất và nguồn gốc phát sinh
1. Khái niệm Luật thương mại phạm vi điều chỉnh và chủ thể của Luật thương mại
1.1 Khái niệm luật thương mại
Luật thương mại là tổng thể các quy phạm do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động thương mại giữa các thương nhân với nhau và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.2 Phạm vi điều chỉnh của luật thương mại
Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy Luật thương mại có phạm vi điều chỉnh, chính là: Các hoạt động của thương nhân như: đầu tư, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi.
Các hoạt động mang tính tổ chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng liên quan trực tiếp đến hoạt động thương mại như: Đăng ký kinh doanh, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh, thương mại; giải thể và phá sản doanh nghiệp.
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
1.3 Chủ thể của luật thương mại
Chủ thể của Luật thương mại: Chủ thể của Luật thương mại là những tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để tham gia vào các quan hệ do Luật thương mại điều chỉnh.
Chủ thể của Luật thương mại phải đảm bảo các điều kiện sau đây:Thứ nhất, phải được thành lập hợp pháp. Được thành lập một cách hợp pháp nghĩa là các chủ thể của Luật thương mại được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, hoặc đăng ký kinh doanh; có chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động rõ ràng; được tổ chức dưới một hình thức nhất định do pháp luật quy định (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty,…)
Thứ hai, phải có tài sản. Tài sản là cơ sở vật chất không thể thiếu được để cho các chủ thể của Luật thương mại, đặc biệt là các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Trên thực tế, tài sản đó tồn tại dưới dạng vốn kinh doanh (vốn điều lệ, vốn pháp định). Khối lượng và cơ cấu tài sản cũng như khối lượng quyền năng của các doanh nghiệp có được đối với từng loại tài sản phụ thuộc và tính chất sở hữu, quy mô hoạt động từng chủ thể.
Thứ ba, có thẩm quyền trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Đây là cơ sở pháp lý để các chủ thể Luật thương mại thực hiện các hành vi pháp lý nhằm tạo cho mình những quyền và nghĩa vụ cụ thể, đồng thời nó cũng quy định rõ giới hạn mà trong đó các chủ thể được hành động trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại.
Các loại chủ thể của Luật thương mại: Căn cứ chức năng hoạt động, vai trò, vị trí và mức độ tham gia các quan hệ thương mại của chủ thể mà chủ thể của Luật thương mại được phân thành hai loại như sau:Chủ thể cơ bản, thường xuyên của Luật thương mại là các thương nhân. Đây là loại chủ thể thường xuyên tham gia các mối quan hệ thương mại thuộc đối tượng của Luật thương mại. Chủ thể không thường xuyên của Luật thương mại là cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế: Đó là cơ quan thay mặt nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện tổ chức quản lý, chỉ đạo các thương nhân tiến hành hoạt động kinh doanh thương mại như: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND, các sở, phòng, ban…
2. Khái niệm luật dân sự và phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự?
2.1 Khái niệm luật dân sự?
Luật dân sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật, là tổng hợp những quy phạm điều chỉnh các quan hệ tài sản và một số quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự trên cơ sở bình đẳng, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia các quan hệ dân sự.Luật dân sự gồm các nguyên tắc cơ bản và có chế định khác nhau như: chế định tài sản và quyền sở hữu; chế định nghĩa vụ dân sự vàhợp đồng dân sự; chế định nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; chế định thực hiện công việc không có ủy quyền; chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; chế định thừa kế; chế định chuyển quyền sử dụng đất; chế định quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Mỗi chế định của luật dân sự đều có những nguyên tắc riêng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản và có những quy phạm được tập hợp theo những tiêu chí riêng phù hợp với chế định đó.
Luật dân sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật, là tổng hợp những quy phạm điều chỉnh các quan hệ tài sản và một số quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự trên cơ sở bình đẳng, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia các quan hệ dân sự. Luật dân sự gồm các nguyên tắc cơ bản và có chế định khác nhau như: chế định tài sản và quyền sở hữu; chế định nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; chế định nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; chế định thực hiện công việc không có ủy quyền; chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; chế định thừa kế; chế định chuyển quyền sử dụng đất; chế định quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Mỗi chế định của luật dân sự đều có những nguyên tắc riêng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản và có những quy phạm được tập hợp theo những tiêu chí riêng phù hợp với chế định đó.
Luật dân sự: là một ngành luật độc lập trong quan hệ thống pháp luật nhà nước VN, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật dân sự do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản hoặc có liên quan đến tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, dựa trên nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lí, quyền tự định đoạt, quyền khởi kiện dân sự và trách nhiệm tài sản của những người tham gia quan hệ đó.
Luật Dân sự là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm điều chỉnh các quan hệ tài sản và một số quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự trên cơ sở bình đẳng, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia các quan hệ dân sự.
2.2 Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật Dân sự?
+ Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự: là những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu hàng ngày của các thành viên trong xã hội.
+ Phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự: là những biện pháp, cách thức mà nhà nước tác động lên các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân là cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt theo ý chí của nhà nước và có …
Luật dân sự nói một cách vắn tắt bao gổm các qui định liên quan đêh quyền lợi tư và chủ thê’ của quyền lợi tư. Những quyền lợi này phát sinh trong giao lưu thường ngày. Điều đó có nghĩa là bất kỳ thể nhân hoặc pháp nhân nào cũng có thể tham gia các giao dịch dân sự nhằm thoả mãn nhu cầu vê' vật châ't và tinh thần của mình.
3. Về tính chất và nguồn gốc phát sinh
Về tính châ't và nguồn gốc phát sinh thì luật thương mại là luật của các thương nhân được hình thành từ các quy tắc nghê' nghiệp của các thương nhân từ thời kỳ Trung cổ ở Châu Âu. Nên chủ thê’ thông thường của luật thương mại là các thương nhân lây hành vi thương mại làm nghê' nghiệp của mình.
Các giaọ dịch mà luật thương mại điều chỉnh là các giao dịch nhằm mục tiêu lợi nhuận và được thương nhân sử dụng thường xuyên như nghê' nghiệp của họ. Luật thương mại được quan niệm là con đường riêng mà các nhà làm luật ở Việt Nam nên thừa nhận bởi các đặc thù của hoạt động thương mại .
Luật dân sự liên quan tới đời sống thường ngày mang nặng chủ nghĩa hình thức, đầy chất lý luận, khái quát chung hầu hết đời sống và hoạt động của con người. Còn luật thương mại không coi trọng hình thức, đề cao tính hiệu quả, nhanh chóng và giản đơn của các giao dịch. Luật thương mại được áp dụng khi người ta thực hành nghề nghiệp thương mại, có nghĩa ở một giai đoạn đặc biệt trong cuộc sống thường ngày. Luật thương mại mang tính quốc tế rộng lớn hơn luật dân sự với tư cách là một ngành luật gắn bó rất chặt chẽ với truyền thống văn hoá - xã hội của mỗi nước.
Mặc dù đều là luật tư, mang phương pháp điều chỉnh đặc thù của luật tư, nhưng do hoạt động thương mại có liên quan nhiều tói trật tự công cộng và đời sống chung của cộng đồng nên nhà nước can thiệp nhiều và sâu hơn vào các quan hệ này làm cho các thương nhân phải chịu các quy chế ngặt nghèo hơn. Ví dụ muốn tham gia các giao dịch thương mại thường xuyên thì cần phải tổ chức theo một hình thức nhất định và phải được phép tiến hành các giao dịch nhất định, khác vói thể nhân và pháp nhân rất thanh thản, đầy tự tin và được bảo hộ khi tham gia các giao dịch dân sự theo ý chí của họ.
Do nguồn gốc hình thành các quy tắc khác nhau, chủ thể có đặc điểm khác nhau, phương pháp thực hiện quyền lợi khác nhau, phương pháp nhà nước can thiệp vào quan hệ khác nhau, nên luật thương mại và luật dân sự là hai ngành luật khác biệt, nhưng có mối quan hệ hết sức chặt chẽ. Thực tiễn nhiều nước trên thế giới kể cả Việt Nam từ xưa đến nay đã pháp điển hoá hai ngành luật này trong các văn bản pháp luật khác nhau. Đặc biệt ở Việt Nam có sự phân biệt giữa luật kinh tế và luật dân sự, nay luật thương mại đã thay thế phần nào đó cho luật kinh tế thì việc phân biệt với luật dân sự vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó. Tuy nhiên, không được quên rằng luật dân sự đặt nền tảng đầy chất lý luận cho cả hệ thống luật tư. Hiện nay có một số nước pháp điển hóa cả luật dân sự và luật thương mại trong một bộ pháp điển hóa như trên đã nói. Nhưng điều đó không nói lên rằng luật thượng mại hòa nhập hòa toàn vào luật dân sự.
Áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan: Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên quan.Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê