1. Cơ sở pháp lý quy định về phạm nhiều tội

- Bộ luật hình sự năm 1985 (trước đây, đã hết hiệu lực)

- Bộ luật hình sự năm 1999 (trước đây, đã hết hiệu lực)

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 (hiện đang có giá trị áp dụng).

2. Khái niệm phạm nhiều tội

Phạm nhiều tội là (Chủ thể) có nhiều hành vi phạm tội độc lập hoặc chỉ có một hành vi phạm tội và hành vi đã thực hiện đó thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau (phạm nhiều tội khác nhau). Phạm nhiều tôi là vấn để của luật hình sự có liên quan trực tiếp đến vấn đề quyết định hình phạt. Phạm nhiều tội và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là hai vấn đề không tách rời nhau. Luật hình sự Việt Nam, trong Bộ luật hình sự năm 1985, đã quy định rõ cách quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Tuy nhiên, Bộ luật này lại không có quy định về trường hợp phạm nhiều tội. Bộ luật hình sự năm 1999 cũng không có quy định này.

3. Những trường hợp được coi là phạm tội nhiêu lần

Phạm nhiều tội có hai loại trường hợp:

>> Xem thêm:  Lú luận về động cơ phạm tội trong vụ án hình sự ?

1) Người phạm tội có nhiều hành vi phạm tội khác nhau và mỗi hành vi này cấu thành một tội riêng. Những hành vi phạm tội này có thể có mối liên quan với nhau hoặc không. Vĩ dụ: Thủ kho có hành vi tham ô tài sản, sau đó lại đốt kho để che giấu hành vi tham ô của mình (phạm tội huỷ hoại tài sản); Một người có hành vi trộm cắp tài sản, sau đó lại có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác (phạm tội cố ý gây thương tích)... ;

2) Người phạm tội có một hành vi phạm tội nhưng hành vi này lại cấu thành nhiều tội khác nhau. Ví dụ: Hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của chủ tài sản để chiếm đoạt tài sản của họ cấu thành hai tội khác nhau: tội giết người và tội cướp tài sản.

4. Các hình thức biểu hiện của phạm nhiều tội

Về các hình thức biểu hiện của phạm nhiều tội, trong sách báo pháp lý của nước ta và nước ngoài có nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của nhà hình sự học Xô Viết A. M. Iakovlev, thì “phạm nhiều tội được phân chia thành hai dạng: phạm nhiều tội được liên kết bằng sự thông nhất của ý định phạm tội, và phạm nhiều tội không có sự liên kết của ý định phạm tội. Trong hai dạng đó, dạng thứ nhất thể hiện tính nguy hiểm của nhân thân và hành vi người phạm tội, còn dạng thứ hai chỉ thể hiện tính nguy hiểm của nhân thân người phạm tội. Việc phân chia như vậy là có cơ sở, vì nó có ý nghĩa thực tiễn không chỉ đối với việc xem xét tính chất nguy hiểm cho xã hội của nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, mà còn là căn cứ để phân biệt trường hợp phạm nhiều tội với các trường hợp phạm tội đơn nhất phức tạp.

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, nhiều nhà luật học nước ta có chung quan điểm thống nhất chia phạm nhiều tội thành hai dạng: phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng và phạm nhiều tội tổng hợp thực tế.

4.1. Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng là gì?

Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng chưa được quy phạm hóa trong Bộ luật hình sự nước ta và trong pháp lụật hình sự của một số nước trên thế giói. Tuy nhiên, lý luận luật hình sự và thực tiễn xét xử ở các mức độ khác nhau cũng đã đề cập đến khái niệm phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng và xung quanh khái niệm này, hiện nay các nhà hình sự học trên thế giới vẫn còn một số quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất của nhà hình sự học nổi tiếng người Nga GS. N.F.Kuznhexova cho rằng, “Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng là trường hợp bằng một hành vi, chủ thể gây ra hai thiệt hại khác nhau cho hai khách thể tương ứng khác nhau”.

>> Xem thêm:  Hình phạt chính là gì ? Các loại hình phạt chính hiện nay

Quan điểm thứ hai của các nhà hình sự học nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan và Bộ luật hình sự của Cộng hòa nhân dân Ba Lan không tán thành chế định phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng. Ví dụ: tại khoản 1 Điều 10 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Ba Lan nám 1969 quy định: “Một hành vi phạm tội chỉ có thể cấu thành một tội”. Theo đó, các nhà hình sự học Ba Lan khi bình luận về vấn đề này đã viết rằng: một hành vi phạm tội không phụ thuộc vào số lượng hậu quả mà nó gây ra và không phụ thuộc vào số lượng các quy phạm mà nó vi phạm, đó chỉ có thể là một tội phạm mà thôi. Trên cơ sở đó, các quy định của pháp luật Ba Lan đã loại trừ cấu trúc phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng, bởi cho rằng đó là thứ cấu trúc mang tính chủ quan và coi tội phạm không phải là hiện tượng của thực tế khách quan, mà là sự đánh giá chủ quan của con người đối với những hành vi phạm tội nhất định dưới góc độ pháp luật hình sự.

Quan điểm thứ ba của nhà hình sự học người Nga khác là Viện sĩ V. N. Kuđriaxev thì cho rằng, “Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng là trường hợp khi một hành vi phạm tội nếu được điều chỉnh bằng một quy phạm pháp luật hình sự thì không bao hàm đầy đủ được các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm đó. Nó chỉ có thể được đánh giá chính xác về mặt pháp lý bằng cách áp dụng hai hoặc nhiều hơn quy phạm pháp luật của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự”

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ ba, bởi vì khi có một hành vi phạm tội nếu chỉ điều chỉnh bằng một quy phạm pháp luật hình sự thì không bao hàm đầy đủ được các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm đó. Nó chỉ có thể được đánh giá chính xác về mặt pháp lý bằng cách áp dụng hai quy phạm pháp luật trở lên của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

4.1. Phạm nhiều tội tổng hợp thực tế là gì?

Cũng như phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng, phạm nhiều tội tổng hợp thực tế chưa được quy phạm hóa trong Bộ luật hình sự nưốc ta và trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và các nhà thực tiễn đã đưa ra tiêu chí cụ thể về phạm nhiều tội tổng hợp thực tế. Các tiêu chí có tính đặc trưng của phạm nhiều tội tổng hợp thực tế là: chủ thể thực hiện hai hành vi phạm tội trở lên, mà những hành vi đó cấu thành những tội độc lập được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

Qua nghiên cứu các trường hợp phạm nhiều tội cho thấy, so với trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng, phạm nhiều tội tổng hợp thực tế chiếm tỷ lệ rất cao. Chẳng hạn, việc nghiên cứu, khảo sát của tác giả các trường hợp phạm nhiều tội ở địa bàn tỉnh Thanh Hoá cho thấy, có tối gần 92% trường hợp phạm nhiều tội, kẻ phạm tội đã thực hiện hai hành vi phạm tội trở lên, các hành vi đó đểu cấu thành những tội độc lập được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự và chỉ có hơn 8% số trường hợp phạm nhiều tội, người phạm tội đã thực hiện một hành vi phạm tội mà hành vi đó cấu thành hai tội độc lập trở lên.

Kết quả nghiên cứu ở địa bàn trên cũng cho thấy, trong trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, các hành vi phạm tội thường xảy ra ở những thời điểm khác nhau. Trong tổng số các trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, có tởi 71,7% trường hợp phạm tội có sự khác nhau về thời gian, địa điểm, cũng như hoàn cảnh thực hiện tội phạm giữa các lần phạm tội. Chính sự khác nhau về thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm cho phép chúng ta phân biệt được những trường hợp phạm tội tổng hợp thực tế và những trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng.

Từ sự phân tích ở trên, có thể rút ra nhận xét, trong trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, thông thường các hành vi phạm tội được thực hiện ở những khoảng thời gian khác nhau; khoảng thời gian cách nhau đó có thể dài hoặc không đáng kể, nhưng từng hành vi phạm tội phải có tính độc lập, cấu thành một tội phạm riêng biệt.

Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử có không ít những trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, khi các hành vi phạm tội được thực hiện cách nhau không đáng kể về mặt thời gian, thậm chí không cách biệt về mặt thời gian và có liên quan hữu cơ với nhau, nhưng tính chất độc lập của từng hành vi phạm tội rất rõ ràng.

Từ sự phân tích như trên, dưối góc độ khoa học luật hình sự, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa của khái niệm phạm nhiều tội tổng hợp thực tế như sau: Phạm nhiều tội tổng hợp thực tế là trường hợp khi một chủ thể thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội độc lập với nhau, những hành vi đó cấu thành hai tội phạm trở lên được quy định tại các điều luật khác nhau hoặc tại các khoản khác nhau của một điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

>> Xem thêm:  Phương tiện phạm tội là gì ? Quy định về phương tiện phạm tội

Về mô hình lý luận luật hình sự, chúng tôi cho rằng, cần khắc phục nhược điểm cơ bản của chế định phạm nhiều tội là chưa ghi nhận định nghĩa pháp lý để quy định rõ ràng và chính thức về mặt lập pháp nội dung cơ bản của khái niệm phạm nhiều tội. Việc ghi nhận về mặt lập pháp khái niệm này sẽ là căn cứ pháp lý cho các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh có hiệu quả với các trường hợp phạm nhiều tội trong những điều kiện mới của tình hình tội phạm.

5. Phân biệt phạm nhiều tội và phạm tội nhiều lần

Tiêu chí

Phạm nhiều tội

Phạm tội nhiều lần

Khái niệm

Phạm nhiều tội là thực hiện nhiều hành vi, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm độc lập hoặc chỉ thực hiện một hành vi và hành vi đó cấu thành nhiều tội phạm khác nhau.

Phạm tội nhiều lần là thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm, những hành vi đó đều cấu thành cùng một tội phạm và chưa có hành vi nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khách thể bị xâm phạm

Xâm phạm vào các khách thể khác nhau.

Xâm phạm vào cùng một khách thể.

Thời điểm thực hiện các hành vi

Các hành vi có thể được thực hiện vào cùng một thời điểm hoặc vào các thời điểm khác nhau.

Các hành vi xảy ra vào các thời điểm khác nhau.

Quyết định hình phạt

Xem xét, quyểt định tội danh và hình phạt đối với từng hành vi, sau đó tổng hợp hình phạt của bản án.

Phạm tội nhiều lần được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc tình tiết định khung hình phạt.

Ví dụ

A giết và cướp tài sản của B

A phạm tội giết người và tội cướp tài sản

Hôm nay, A cướp xe máy của B. Hôm sau, A cướp máy tính của C.

A phạm tội cướp tài sản với tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)

>> Xem thêm:  Che giấu tội phạm là gì ? Khái niệm về che giấu tội phạm

Câu hỏi thường gặp về phạm nhiều tội ?

Câu hỏi: Khái niệm cơ bản về tội phạm?

Trả lời:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Câu hỏi: Khái niệm cơ bản về bị cáo?

Trả lời:

Từ khi có quyết định của Toà án đưa bị can ra xét xử thì người đó được gọi là bị cáo. Nếu chưa có quyết định của Toà án đưa ra xét xử thì bị can vẫn chưa được gọi là bị cáo, mặc dù hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng quyết định truy tố người đó đã được gửi cho Toà án. – Bị cáo là người tham gia tố tụng.

Câu hỏi: Khái niệm cơ bản về tố giác?

Trả lời:

Tố giác về tội phạm  việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Tin báo về tội phạm  thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.