Thưa luật sư, xin luật sư cho biết thế nào là phạm nhiều tội và các hình thức biểu hiện của phạm nhiều tội là gì ạ? Rất mong nhận được giải đáp của luật sư. Xin chân thành cảm ơn! (Huy Hiếu - TP.HCM)
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật hình sự năm 1985
- Bộ luật hình sự năm 1999
- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017
2. Phạm nhiều tội là gì?
Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể thực hiện hai tội phạm trở lên, mà những tội phạm đó được quy định tại các điều luật khác nhau hoặc các khoản khác nhau của một điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, nhưng người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số các tội ấy.
3. Các hình thức biểu hiện của phạm nhiều tội là gì?
Về các hình thức biểu hiện của phạm nhiều tội, trong sách báo pháp lý của nước ta và nước ngoài có nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của nhà hình sự học Xô Viết A. M. Iakovlev, thì “phạm nhiều tội được phân chia thành hai dạng: phạm nhiều tội được liên kết bằng sự thông nhất của ý định phạm tội, và phạm nhiều tội không có sự liên kết của ý định phạm tội. Trong hai dạng đó, dạng thứ nhất thể hiện tính nguy hiểm của nhân thân và hành vi người phạm tội, còn dạng thứ hai chỉ thể hiện tính nguy hiểm của nhân thân người phạm tội. Việc phân chia như vậy là có cơ sở, vì nó có ý nghĩa thực tiễn không chỉ đối với việc xem xét tính chất nguy hiểm cho xã hội của nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, mà còn là căn cứ để phân biệt trường hợp phạm nhiều tội với các trường hợp phạm tội đơn nhất phức tạp.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, nhiều nhà luật học nước ta có chung quan điểm thống nhất chia phạm nhiều tội thành hai dạng: phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng và phạm nhiều tội tổng hợp thực tế.
3.1. Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng là gì?
Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng chưa được quy phạm hóa trong Bộ luật hình sự nước ta và trong pháp lụật hình sự của một số nước trên thế giói. Tuy nhiên, lý luận luật hình sự và thực tiễn xét xử ở các mức độ khác nhau cũng đã đề cập đến khái niệm phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng và xung quanh khái niệm này, hiện nay các nhà hình sự học trên thế giới vẫn còn một số quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất của nhà hình sự học nổi tiếng người Nga GS. N.F.Kuznhexova cho rằng, “Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng là trường hợp bằng một hành vi, chủ thể gây ra hai thiệt hại khác nhau cho hai khách thể tương ứng khác nhau”.
Quan điểm thứ hai của các nhà hình sự học nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan và Bộ luật hình sự của Cộng hòa nhân dân Ba Lan không tán thành chế định phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng. Ví dụ: tại khoản 1 Điều 10 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Ba Lan nám 1969 quy định: “Một hành vi phạm tội chỉ có thể cấu thành một tội”. Theo đó, các nhà hình sự học Ba Lan khi bình luận về vấn đề này đã viết rằng: một hành vi phạm tội không phụ thuộc vào số lượng hậu quả mà nó gây ra và không phụ thuộc vào số lượng các quy phạm mà nó vi phạm, đó chỉ có thể là một tội phạm mà thôi. Trên cơ sở đó, các quy định của pháp luật Ba Lan đã loại trừ cấu trúc phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng, bởi cho rằng đó là thứ cấu trúc mang tính chủ quan và coi tội phạm không phải là hiện tượng của thực tế khách quan, mà là sự đánh giá chủ quan của con người đối với những hành vi phạm tội nhất định dưới góc độ pháp luật hình sự.
Quan điểm thứ ba của nhà hình sự học người Nga khác là Viện sĩ V. N. Kuđriaxev thì cho rằng, “Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng là trường hợp khi một hành vi phạm tội nếu được điều chỉnh bằng một quy phạm pháp luật hình sự thì không bao hàm đầy đủ được các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm đó. Nó chỉ có thể được đánh giá chính xác về mặt pháp lý bằng cách áp dụng hai hoặc nhiều hơn quy phạm pháp luật của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự”
Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ ba, bởi vì khi có một hành vi phạm tội nếu chỉ điều chỉnh bằng một quy phạm pháp luật hình sự thì không bao hàm đầy đủ được các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm đó. Nó chỉ có thể được đánh giá chính xác về mặt pháp lý bằng cách áp dụng hai quy phạm pháp luật trở lên của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
Như vậy, đặc trưng của phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng là ở chỗ, một hành vi phạm tội đồng thời thoả mãn dấu hiệu của hai hay nhiều cấu thành tội phạm cụ thể và hành vi đó được điều chỉnh không chỉ bởi một quy phạm pháp luật hình sự, mà phải được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật hình sự trở lên được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Nói cách khác, trong trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng, hành vi phạm tội đã thực hiện và những hậu quả do nó gây ra cho xã hội chỉ được đánh giá đúng đắn về mặt pháp lý hình sự khi chúng được điều chỉnh trong sự tổng hợp các quy phạm pháp luật hình sự.
Thông thường, trong cấu thành tội phạm một tội cụ thể, hành vi phạm tội đã thu hút. hết những tình tiết khách quan và chủ quan có ý nghĩa về mặt pháp lý hình sự của hành vi phạm tội đó. Nhưng cũng có những trường hợp một cấu thành tội phạm cụ thể chưa thu hút hết những tình tiết của hành vi phạm tội, tức là còn có những tình tiết có ý nghĩa về mặt pháp lý nằm ngoài cấu thành tội phạm và trong sự thống nhất với những tình tiết này, hành vi phạm tội (toàn bộ hoặc một phần) lại cấu thành một tội thứ hai. Ví dụ-, hành vi đâm chết nạn nhân để lấy tài sản của họ là trường hợp một hành vi phạm tội cấu thành hai tội. Hành vi đâm (dùng vũ lực) nhằm chiếm đoạt tài sản cấu thành tội cướp tài sản (Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999), nhưng cấu thành tội cưốp tài sản lại chưa thu hút tình tiết hậu quả chết người do lỗi cố ý của hành vi phạm tội. Cùng vối tình tiết hậu quả chết người và lỗi cố ý đốì với hậu. quả đó, hành vi phạm tội đã cấu thành tội thứ hai - tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999). Đây là trường hợp một hành vi phạm tội đồng thời thỏa mãn dấu hiệu của hai cấu thành tội phạm cụ thể(1).
Một hành vi phạm tội vừa thỏa mãn một cấu thành tội phạm cụ thể này, vừa thỏa mãn một cấu thành của hành vi đồng phạm của một tội cụ thể khác. Ví dụ: nhân viên Hải quan đã nhận hối lộ của đối tượng buôn lậu để cho họ đưa hàng hóa, tiền tệ trái phép qua biên giới. Trong trường hợp này, hành vi phạm tội của nhân viên Hải quan vừa thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội nhận hối lộ (Điều 279 Bộ luật hình sự 1999), vừa thỏa mãn dấu hiệu của hành vi giúp sức trong tội buôn lậu (Điều 153 Bộ luật hình sự 1999)(2).
Một hành vi phạm tội đồng thời thỏa mãn hai cấu thành của hai hành vi đồng phạm của hai tội khác nhau.
Ví dụ, một người cố ý cho người khác mượn súng mà mình biết rõ người đó dùng để tước đoạt tính mạng của chủ tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Trong trường hợp này, hành vi phạm tội của người cho mượn súng đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu của hành vi đồng phạm tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999) và hành vi đồng phạm tội cưốp tài sản (Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)(1).
- Một hành vi phạm tội còn có thể vừa thỏa mãn một cấu thành tội phạm cụ thể này và vừa thỏa mãn tình tiết định khung của một tội khác. Ví dụ-, hành vi hành hung để tẩu thoát sau khi trộm cắp tài sản của công dân đã gây thương tích nặng cho chủ tài sản. Trong trường hợp này, hành vi hành hung vừa thỏa mãn các dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích (Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999), vừa thỏa mãn dấu hiệu của khung tăng nặng tội trộm cắp tài sản (khoản đ Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999).
Từ sự phân tích ở trên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng như sau: phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng là trường hợp khi một chủ thể thực hiện một hành vì nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó cấu thành hai hoặc nhiều tội phạm được quy định tại các điều luật khác nhau trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
3.2. Phạm nhiều tội tổng hợp thực tế là gì?
Cũng như phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng, phạm nhiều tội tổng hợp thực tế chưa được quy phạm hóa trong Bộ luật hình sự nưốc ta và trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và các nhà thực tiễn đã đưa ra tiêu chí cụ thể về phạm nhiều tội tổng hợp thực tế. Các tiêu chí có tính đặc trưng của phạm nhiều tội tổng hợp thực tế là: chủ thể thực hiện hai hành vi phạm tội trở lên, mà những hành vi đó cấu thành những tội độc lập được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
Qua nghiên cứu các trường hợp phạm nhiều tội cho thấy, so với trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng, phạm nhiều tội tổng hợp thực tế chiếm tỷ lệ rất cao. Chẳng hạn, việc nghiên cứu, khảo sát của tác giả các trường hợp phạm nhiều tội ở địa bàn tỉnh Thanh Hoá cho thấy, có tối gần 92% trường hợp phạm nhiều tội, kẻ phạm tội đã thực hiện hai hành vi phạm tội trở lên, các hành vi đó đểu cấu thành những tội độc lập được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự và chỉ có hơn 8% số trường hợp phạm nhiều tội, người phạm tội đã thực hiện một hành vi phạm tội mà hành vi đó cấu thành hai tội độc lập trở lên.
Kết quả nghiên cứu ở địa bàn trên cũng cho thấy, trong trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, các hành vi phạm tội thường xảy ra ở những thời điểm khác nhau. Trong tổng số các trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, có tởi 71,7% trường hợp phạm tội có sự khác nhau về thời gian, địa điểm, cũng như hoàn cảnh thực hiện tội phạm giữa các lần phạm tội. Chính sự khác nhau về thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm cho phép chúng ta phân biệt được những trường hợp phạm tội tổng hợp thực tế và những trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng.
Từ sự phân tích ở trên, có thể rút ra nhận xét, trong trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, thông thường các hành vi phạm tội được thực hiện ở những khoảng thời gian khác nhau; khoảng thời gian cách nhau đó có thể dài hoặc không đáng kể, nhưng từng hành vi phạm tội phải có tính độc lập, cấu thành một tội phạm riêng biệt.
Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử có không ít những trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, khi các hành vi phạm tội được thực hiện cách nhau không đáng kể về mặt thời gian, thậm chí không cách biệt về mặt thời gian và có liên quan hữu cơ với nhau, nhưng tính chất độc lập của từng hành vi phạm tội rất rõ ràng.
Từ sự phân tích như trên, dưối góc độ khoa học luật hình sự, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa của khái niệm phạm nhiều tội tổng hợp thực tế như sau: Phạm nhiều tội tổng hợp thực tế là trường hợp khi một chủ thể thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội độc lập với nhau, những hành vi đó cấu thành hai tội phạm trở lên được quy định tại các điều luật khác nhau hoặc tại các khoản khác nhau của một điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
Về mô hình lý luận luật hình sự, chúng tôi cho rằng, cần khắc phục nhược điểm cơ bản của chế định phạm nhiều tội là chưa ghi nhận định nghĩa pháp lý để quy định rõ ràng và chính thức về mặt lập pháp nội dung cơ bản của khái niệm phạm nhiều tội. Việc ghi nhận về mặt lập pháp khái niệm này sẽ là căn cứ pháp lý cho các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh có hiệu quả với các trường hợp phạm nhiều tội trong những điều kiện mới của tình hình tội phạm.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & Biên tập