1. Hiểu thế nào về thuế GTGT với hoạt động sản xuất thủy điện

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có tên viết tắt là VAT từ cụm từ tiếng Anh Value Added Tax. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng vào năm 1954. Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế GTGT. Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế GTGT. Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.

Giá tính thuế GTGT với hoạt động sản xuất điện được quy định như sau: 

- Trường hợp 1: Thủy điện: Đối với điện của các công ty thủy điện hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, hạch toán phụ thuộc các Tổng công ty phát điện, giá tính thuế giá trị gia tăng để xác định số thuế giá trị gia tăng nộp tại địa phương nơi có nhà máy thủy điện được tính bằng 35% giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật điện lực và pháp luật giá.

- Trường hợp 2: Nhiệt điện: Đối với điện của các công ty nhiệt điện hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, hạch toán phụ thuộc các Tổng công ty phát điện, giá tính thuế giá trị gia tăng để xác định số thuế giá trị gia tăng nộp tại địa phương nơi có nhà máy nhiệt điện là giá bán điện cho khách hàng ghi trên hóa đơn theo hợp đồng mua bán điện áp dụng cho từng nhà máy nhiệt điện. Trường hợp chưa có hợp đồng mua bán điện áp dụng cho từng nhà máy nhiệt điện thì giá tính thuế giá trị gia tăng được xác định là giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật điện lực và pháp luật giá.

- Trường hợp 3: Hoạt động sản xuất điện khác trừ thủy điện và nhiệt điện: Đối với điện của các công ty sản xuất điện (trừ thủy điện, nhiệt điện) hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, hạch toán phụ thuộc các Tổng công ty phát điện, giá tính thuế giá trị gia tăng để xác định số thuế giá trị gia tăng nộp tại địa phương nơi có nhà máy sản xuất điện là giá bán điện chưa có thuế giá trị gia tăng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định cho từng loại hình phát điện. Trường hợp chưa có giá bán điện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định cho từng loại hình phát điện nêu tại điểm này thì giá tính thuế giá trị gia tăng được xác định là giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật điện lực và pháp luật giá.

Theo điểm d khoản 3 điều 13 quy định tại Thông tư 80/2021/TT-BTC quy định phương pháp tính số thuế phân bổ nộp thuế giá trị gia tăng cho hoạt động sản xuất thủy điện như sau:

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp tại từng tỉnh nơi nhà máy thủy điện nằm trên địa giới hành chính = số thuế giá trị gia tăng phải nộp của nhà máy thủy điện x tỷ lệ (%) giá trị đầu tư của phần nhà máy thủy điện nằm trên địa giới hành chính từng tỉnh trên tổng giá trị đầu tư của nhà máy thủy điện.

 

2. Khi nào cần phân bổ thuế GTGT phải nộp với hoạt động sản xuất thủy điện

Theo khoản 1 Điều 13 Thông tư 80/2021/TT-BTC, các trường hợp được phân bổ thuế giá trị gia tăng bao gồm:

- Hoạt động kinh doanh xổ số điện toán;

- Hoạt động chuyển nhượng bất động sản

- Hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế quốc dân và quy định của pháp luật chuyên ngành;

- Đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh là cơ sở sản xuất 

- Nhà máy thủy điện nằm trên nhiều tỉnh.

Vậy thì theo quy định thì hoạt động sản xuất điện sẽ thuộc đối tượng phân bổ thuế giá trị gia tăng. Phân bổ số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho từng tỉnh nơi có nhà máy thủy điện nằm trên nhiều tỉnh:

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp tại từng tỉnh nơi nhà máy thủy điện nằm trên địa giới hành chính bằng (=) số thuế giá trị gia tăng phải nộp của nhà máy thủy điện nhân (x) với tỷ lệ (%) giá trị đầu tư của phần nhà máy thủy điện nằm trên địa giới hành chính từng tỉnh trên tổng giá trị đầu tư của nhà máy thủy điện

Theo điểm d khoản 3 điều 13 Thông tư 80/2021/TT-BTC thực hiện khai thuế và nộp thuế giá trị gia tăng phân bổ đối với hoạt động sản xuất thủy điện như sau:

- Thực hiện khai thuế giá trị gia tăng: Người nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng phát sinh của nhà máy thủy điện và nộp hồ sơ khai thuế theo mẫu số 01/GTGT, phụ lục bảng phân bổ số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động sản xuất thủy điện theo mẫu số 01-2/GTGT ban hành kèm theo phụ lục II Thông tư này cho cơ quan thuế nơi có văn phòng điều hành nhà máy thủy điện.

- Thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng: Người nộp thuế thực hiện nộp số tiền thuế phân bổ cho từng tỉnh nơi có nhà máy thủy điện theo từng tỉnh hưởng nguồn thu phân bổ để lập chứng từ nộp tiền và nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo quy định. Kho bạc Nhà nước nơi tiếp nhận chứng từ nộp ngân sách nhà nước của người nộp thuế hạch toán khoản thu cho từng địa bàn nhận khoản thu phân bổ.

 

3. Quy định mới về giá tính thuế GTGT với hoạt động sản xuất điện

Tại Nghị định 49/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2013/NĐ-CP vừa được ban hành, Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung quy định về xác định giá tính thuế GTGT đối với các công ty thủy điện, nhiệt điện và công ty sản xuất điện khác hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tổng công ty phát điện (GENCO).

Thực hiện theo quy định, số thu của một số địa phương gặp khó khăn do việc xác định giá tính thuế GTGT đối với điện của các công ty sản xuất điện hạch toán phụ thuộc EVN và hạch toán phụ thuộc các GENCO theo chi phí sản xuất điện của năm trước liền kề sẽ không thống nhất giữa các nhà máy thủy điện. Nguyên nhân vì có những nhà máy thủy điện đã hết khấu hao và nhà máy thủy điện chưa hết khấu hao. Bên cạnh đó, đối với nhà máy thủy điện đã hết khấu hao hoặc tiết kiệm chi phí thì giá tính thuế GTGT để nộp cho các địa phương thấp nên ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách của địa phương.

Do vậy, để hài hoà lợi ích nhà nước, địa phương và doanh nghiệp, đảm bảo việc thực hiện được ổn định tại các địa phương, Chính phủ đã sửa đổi quy định liên quan đến vấn đề này cũng như tháo gỡ một số vướng mắc khác đối với các công ty sản xuất điện khác (trừ thủy điện) hạch toán phụ thuộc EVN, GENCO.

Cụ thể, quy định giá tính thuế đối với hoạt động sản xuất điện của Tập đoàn điện lực Việt Nam như sau.

Đối với điện của các công ty thủy điện hạch toán phụ thuộc EVN, GENCO, giá tính thuế GTGT để xác định số thuế GTGT nộp tại địa phương nơi có nhà máy thủy điện được tính bằng 35% giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế GTGT theo quy định của pháp luật điện lực và pháp luật giá.

Đối với điện của các công ty nhiệt điện hạch toán phụ thuộc EVN, GENCO, giá tính thuế GTGT để xác định số thuế GTGT nộp tại địa phương nơi có nhà máy nhiệt điện là giá bán điện cho khách hàng ghi trên hóa đơn theo hợp đồng mua bán điện áp dụng cho từng nhà máy nhiệt điện.

- Trường hợp 1: chưa có hợp đồng mua bán điện áp dụng cho từng nhà máy nhiệt điện thì giá tính thuế GTGT được xác định là giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế GTGT theo quy định của pháp luật điện lực và pháp luật giá. Đối với điện từ các công ty phát điện trực thuộc EVN, GENCO (không bao gồm thủy điện, nhiệt điện), giá tính thuế GTGT để xác định số thuế GTGT phải nộp tại địa điểm nhà máy điện là giá bán điện chưa bao gồm thuế GTGT theo quy định của cơ quan nhà nước có liên quan đối với từng loại hình phát điện. 

- Trường hợp 2: chưa có cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định giá bán điện đối với từng loại hình phát điện nêu tại Thông tư này thì giá tính thuế doanh thu được xác định là giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế tiêu thụ theo quy định của Luật Điện lực và Luật Giá.

Những thay đổi, bổ sung này sẽ không ảnh hưởng đến nguồn thu của ngân sách nhà nước (nhiệt điện, gió, mặt trời…) nơi đặt các tổ máy phát điện mà còn đảm bảo tính minh bạch hơn trong cải cách chính sách, hành chính đối với EVN và các đơn vị phát điện. Điều này là do EVN không cần phải công bố giá mua điện hàng năm để các nhà sản xuất điện có thể nộp thuế cho nó. Các công ty phát điện cũng chủ động trong việc tính giá VAT. Quy định mới cũng sẽ góp phần ổn định việc thực hiện tại địa phương.

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê về chủ đề khi nào phải phân bổ thuế giá trị gia tăng với hoạt động sản xuất điện. Quý khách có thể tìm hiểu thêm bài viết liên quan như: Kiến thức cơ bản về thuế giá trị gia tăng (VAT)?. Quý khách hàng có nhu cầu giải đáp thắc mắc vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ qua hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng./.