1. Phân chia tài sản và nợ khi ly hôn?

Xin hỏi Luật sư 2 vấn đề sau ạ:
1). Anh trai và chị dâu tôi kết hôn được 13 năm, hiện có 2 con gái 12 tuổi và 4 tuổi. trước lúc kết hôn ba mẹ chị dâu có cho 2 anh chị một lô đất mà chưa sang tên, cùng lúc đó anh trai tôi bỏ tiền ra xây nhà trên lô đất đó xong rồi mới cưới chị dâu tôi. Mấy năm về trước anh trai tôi đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc có gửi tiền về cho chị dâu để trả tiền lô đất đó cho ông bà, nhưng bây giờ chị dâu tôi nói nếu li hôn thì tài sản nhà cửa đất đai đó chị lấy hết, cho anh ra đi 2 bàn tay trắng.
2). Hiện tại anh trai tôi vay tiền của anh em nhà tôi để mở một cửa hàng bán sơn nước, nhưng toàn bộ số tiền đó vay không làm giấy tờ gì mà chỉ nói miệng rồi cho vay.
Vậy khi ly hôn số tiền nợ đó bên Tòa án họ có yêu cầu phải có giây tờ gì để xác minh không? Và nếu có thì chỉ có giấy vay mượn viết bằng tay có được không ạ.
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Điều 25. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh (Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

1. Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác.

Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này

Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

Như vậy: Vì giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất đó vẫn chưa sang tên, nên nó không là tài sản chung của vợ chồng anh bạn. Việc xây nhà là trước khi kết hôn, nếu anh bạn không chứng minh được đây là tài sản riêng của anh bạn thì căn nhà đó sẽ là tài sản chung của 2 vợ chồng. Khi này ly hôn tài sản sẽ chia cho cả vợ và chồng, nếu vợ chồng anh chị bạn không thỏa thuận được việc chia nhà thì Tòa sẽ giải quyết theo Điều 59 khi có 1 trong 2 người yêu cầu.

Vì anh bạn vay tiền anh chị để mở cửa hàng bán sơn trong thời kỳ hôn nhân, nên có 2 giả định:

Trong trường hợp việc anh bạn có vay tiền để làm ăn (nghĩa là không có sự thỏa thuận giữa 2 vợ chồng về việc vay nợ và sử dụng số tiền này) và việc vay tiền của anh bạn cũng không phải là quan hệ đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 26 Luật HN&GĐ2014 nên tài sản chung của vợ chồng sẽ không được dùng để thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ theo quy định tại điều này.

Trong trường hợp anh bạn vay tiền làm ăn chứng minh được rằng đã có thỏa thuận với chị dâu bạn về việc vay tiền và chị dâu bạn có liên quan tới việc sử dụng số tiền này để làm ăn thì chị dâu bạn sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ liên đới với chồng, tài sản chung vợ chồng sẽ được dùng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Theo quy định của bộ luật dân sự thì hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng dân sự và không bắt buộc phải có công chứng, chứng thực. Do vậy giấy vay tiền viết tay của anh bạn có thông tin hai bên, số tiền và chữ ký hai bên là được pháp luật thừa nhận.

>> Xem thêm:  Vi phạm luật hôn nhân gia đình bị xử lý như thế nào ? Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình ?

2. Nộp đơn xin ly hôn khoảng bao lâu thì mới được giải quyết ?

Thưa luật sư, Tôi rất muốn biết: Nộp đơn xin ly hôn khoảng bao lâu thì mới được giải quyết ?
Xin cảm ơn!

Nộp đơn xin ly hôn khoảng bao lâu thì mới được giải quyết ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước tiên bạn phải xác định rõ bạn ly hôn dưới hình thức nào. Theo quy định của pháp luật có 2 hình thức ly hôn là đơn phương ly hôn và thuận tình ly hôn, hai hình thức này hoàn toàn khác nhau cụ thể:

Thứ nhất, về bản chất thì đơn phương ly hôn là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56, Luật hôn nhân và gia đình 2014 hay nói cách khác là việc chỉ một bên vợ, hoặc chồng muốn nộp đơn ra Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn mà người còn lại không đồng ý về việc ly hôn này. Còn thuận tình ly hôn là trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn dựa trên sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, còn nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn. Cụ thể được quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13.

Thứ hai, về hồ sơ chuẩn bị để ly hôn:

- Mẫu đơn:

+ Đơn ly hôn đơn phương có chữ ký của 1 bên vợ hoặc chồng – người trực tiếp nộp đơn ra Tòa yêu cầu giải quyết ly hôn (theo mẫu của Tòa án)

+ Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn có chữ ký của cả 2 bên vợ và chồng.(theo mẫu của Tòa án)

- Bản chính giấy chứng nhận đăng kí kết hôn của hai vợ chồng.

- Bản sao chứng thực giấy chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu của 2 vợ chồng.

- Bản sao chứng thực giấy khai sinh của con chung (nếu có).

- Bản sao chứng thực sổ hộ khẩu của gia đình

- Bản sao chứng thực giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung của 2 vợ chồng: như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng kí xe,…(nếu có tranh chấp về tài sản).

Thứ ba, về trình tự và thời gian giải quyết:

“Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.”

Theo đó, giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn sẽ theo trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự còn giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương giải quyết theo thủ tục của 1 vụ án dân sự theo các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể như sau:

- Đối với trường hợp thuận tình ly hôn:

+ Sau khi vợ/chồng gửi hồ sơ xin ly hôn đến tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi 1 trong 2 vợ chồng cư trú, trong thời hạn 5 ngày làm việc tòa án sẽ kiểm tra đơn và gửi thông báo nộp tạm ứng án phí.

+ Sau khi nhận được thông báo tạm ứng án phí, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp biên lai tiền tạm ứng án phi cho Tòa án.

+ Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải. Nếu Hòa giải không thành, xét thấy 2 bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

+ Trong thời 7 ngày làm việc từ ngày hòa giải không thành (không thay đổi quyết định về việc ly hôn), nếu các bên không thay đổi ý kiến Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

- Đối với trường hợp ly hôn đơn phương:

+ Thụ lý đơn ly hôn (đơn khởi kiện): Sau khi nhận được đơn từ nguyên đơn, sau 5 ngày làm việc Tòa án phải xem xét có thụ lý đơn hay không. Nếu hồ sơ hợp lệ thì Tòa án gửi thông báo cho nguyên đơn đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án ra quyết định thụ lý đơn ly hôn đơn phương từ thời điểm nguyên đơn nộp biên lai đã đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 191 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện

1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Điều 195. Thụ lý vụ án

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

3. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

4. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

+ Hòa giải: Theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 thì hòa giải tại Tòa án là thủ tục bắt buộc trước khi đưa vụ án ra xét xử.Nếu hòa giải thành thì tòa án lập biên bản hòa giải thành và sau 7 ngày mà các đương sự không thay đổi về ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành và quyết định này có hiệu lực ngay và không được kháng cáo kháng nghị. Nếu hòa giải không thành Tòa án cũng phải lập biên bản hòa giải không thành sau đó ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 208, 211, 212,213, 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Điều 208. Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

1. Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp....

Điều 211. Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

....4. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản và ký xác nhận hoặc điểm chỉ.

Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Toà án lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải.

Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.....

Điều 213. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự

1. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

2. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 195. Quyết định đưa vụ án ra xét xử

2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.

Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án.”

+ Phiên tòa sơ thẩm: Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử các bên được Tòa án gửi giấy triệu tập và được thông báo rõ về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa sơ thẩm. Theo đó các bên phải có mặt, nếu không có mặt thì áp dụng theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Thứ tư, khác nhau về nghĩa vụ nộp tiền án phí sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4, Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011 thì đối với trường hợp ly hôn đơn phương thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, còn thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm.

“Điều 131. Nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm

4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm.”

.Những điều cần lưu ý:Như vậy theo thủ tục trên thì khi bạn nộp đơn ra Tòa sau 5 ngày xem xét hồ sơ Tòa án sẽ có thông báo gửi cho bạn về việc có thụ lý hồ sơ của bạn hay không.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thời gian Tòa án gọi ra tòa khi đã nộp đơn ly hôn là bao lâu ?

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

3. Thời gian bao lâu tòa án sẽ giải quyết việc ly hôn giữa vợ chồng?

Xin chào văn phòng luật sư. Vợ chồng tôi đã kết hôn được 3 năm, và có 1 con 12 tháng. Tôi không có việc làm chỉ ở nhà nuôi con. Vợ chồng chung sống không hòa thuận, chồng tôi hay ngoại tình nhưng tôi không có bằng chứng, tôi muốn ly hôn nhưng chồng không đồng ý.
Vậy trong trường hợp này, tôi đơn phương ly hôn, trong thời gian chờ đợi tòa phân giải, tôi không sống chung với chồng tôi, và mang con theo nuôi nhưng chồng tôi không đồng ý tôi mang con ra ở riêng. Vậy trong thời gian đó tôi để con lại cho chồng nuôi và đi ra sống riêng và kiếm việc làm. Cho tôi hỏi thời gian bao lâu tòa sẽ giải quyết việc ly hôn giữa vợ chồng tôi? Và nếu lúc tòa phân giải tôi không đủ khả năng nuôi con và để con lại cho chồng tôi nuôi thì đến khi con được 3 tuổi hoặc đến thòi gian con tôi chưa đủ 3 tuổi nhưng tôi có đủ bằng chứng chứng tỏ khả năng nuôi con của mình thì tôi có thể giành lại quyền nuôi con được không?
Xin văn phòng luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: B.O

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến1900.6162

Trả lời:

Dựa vào những thông tin bạn đã cung cấp bên trên thì vấn đề đơn phương ly hôn và quyền nuôi con sau ly hôn có thể được giải quyết như sau:

Trường hợp vợ hoặc chồng xin ly hôn đơn phương theo quy định của Điều 203 Luật tố tụng dân sự 2015 thì thời gian chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kế từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 02 tháng. Trong thực tế, thời gian giải quyết vụ án ly hôn có thể ngắn hơn hoặc kéo dài hơn thời gian mà luật qui định tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án .

Đối với việc đến một thời điểm nào đó bạn muốn giành lại quyền nuôi con thì bạn phải khởi kiện một vụ án mới.

Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn:

"1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Vì vậy, để có thể được giành quyền nuôi con, bạn cần có chứng cứ chứng minh chồng bạn không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con (về sức khỏe, học tập, tinh thần...) và bạn có đủ điều kiện để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho con hơn chồng bạn thì Tòa sẽ căn cứ vào đó xem xét để ra phán quyết.

Theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Nên để tiến hành thủ tục khởi kiện đòi quyền nuôi con, bạn phải gửi đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo đến Tòa án nhân dân cấp huyện (Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) nơi chồng bạn đang cư trú. Bạn có thể nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa hoặc gửi đến Tòa án qua đường bưu điện.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn về nghĩa vụ trả khoản vay chung của vợ chồng sau khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

4. Giải quyết tài sản ly hôn giữa mẹ chồng và con dâu?

Kính chào luật Minh Khuê! Bà X là mẹ chồng, có con trai tên L, con dâu tên M. Năm 2010 L và M kết hôn ở chung với gia đình bà X. Năm 2018 mâu thuẫn gia đình, hai vợ chồng người con ở riêng, kinh tế riêng. Năm 2018 vợ chồng có đơn ly hôn, trong thời gian năm 2019 bà X có xây nhà trên đất cha ông bằng tiền tích góp và vay mượn mà không có tiền của con trai và con dâu.
Nhưng người con dâu đòi chia tài sản vì trong thời gian sống chung có lương nói là đưa cho bà X và đòi chia nhà. 13/01/2016 Toà án định đoạt ngôi nhà với giá cao ngất ngưởng để chia cho con dâu của bà X. Trong trường hợp này bà X nên làm gì?

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, cần phải xác định xem tài sản chị M khởi kiện để đòi lại là tài sản có nguồn gốc như thế nào? Có phải là tài sản chung của vợ chồng chị M khi sống chung với gia đình không? Nếu là tài sản chung của vợ chồng chị M trong thời gian chung sống với gia đình thì chị M hoàn toàn có quyền đòi chia tài sản đó.

Tài sản chung của cả gia đình được quy định cụ thể tại Điều 212 Bộ luật dân sự 2015

Điều 212. Sở hữu chung của các thành viên gia đình

1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.......

Theo thông tin bạn cung cấp, bà X có một thời gian chung sống với vợ, chồng con trai tên L và con dâu tên M. Năm 2012 bà X có xây nhà trên đất cha ông. Khi vợ chồng có mâu thuẫn và dẫn tới việc ly hôn thì tài sản khi ở chung với bà X được phân chia theo quy định của pháp luật. Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tại điều 61 có quy định cụ thể:

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

-> Như vậy, nếu xác định căn nhà là tài sản chung có công sức đóng góp của con dâu thì người con dâu có quyền phân chia tài sản là tài sản chung của mình.

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;....."

-> Như vậy, con dâu có thể được chia phần tài sản thuộc công sức đóng góp của mình. Nếu như việc định giá nhà có vướng mắc bạn có thể yêu cầu tòa xác định giá nhà bằng những hóa đơn chứng từ của việc xây dựng, chi phí cho việc xây dựng nhà.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chia tài sản khi ly hôn và quyền nuôi con khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Có thể ủy quyền để ly hôn được không ? Những lưu ý khi ly hôn ?

5. Nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng khi ly hôn?

Thưa luật sư: Khi viết giấy vay mượn cả hai vợ chồng cùng hỏi vay, nhưng khi viết giấy vay mượn chỉ có chữ ký của Người chồng. Sau khi ly hôn người vợ có trách nhiệm phải trả một nửa tài sản vay mượn không?
Tôi xin cảm ơn !

Trả lời:

Trước hết, về việc xác định nghĩa vụ tài sản của bạn và chồng bạn đối với việc cả hai bạn vay tiền, nhưng chỉ có chồng bạn ký tên vào hợp đồng vay tài sản:

Tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định như sau:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Như vậy, trong trường hợp bạn vay tiền, tài sản từ người khác nhằm những mục đích như trên như đáp ứng nhu cầu thiết yếu cùa gia đình hay các mục đích chung cho đời sống hôn nhân, gia đình khác thì đây được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng, dù là hợp đồng vay tài sản chỉ do chồng bạn ký hay cả hai người tham gia ký kết.

Theo quy định tại Điều 60 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 thì:

"Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết."

Như vậy, nếu việc vay nợ tiền người khác của vợ chồng bạn được xác định là nghĩa vụ tài sản của vợ chồng, thì kể cả khi vợ chồng bạn ly hôn thì bạn và chồng bạn vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ như trước khi ly hôn. Và việc trả nợ này được quy định tại Điều 27 như sau:

"Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Như vậy, sau khi ly hôn, bạn và chồng bạn phải có trách nhiệm liên đới đối với việc trả nợ cho chủ nợ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân chia tài sản chung theo quy định nào ? Chia tài sản chung của vợ chồng là bất động sản ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định hiện hành

Trả lời:

- Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

- Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

Câu hỏi: Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định hiện hành

Trả lời:

- Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

- Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

- Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Câu hỏi: Xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài

Trả lời:

- Cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con mà không có tranh chấp giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

- Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 88, Điều 89, Điều 90, khoản 1, khoản 5 Điều 97, khoản 3, khoản 5 Điều 98 và Điều 99 của Luật này; các trường hợp khác có tranh chấp.