1. Mở đầu vấn đề

Một khuôn khổ pháp lý để giải quyết tranh chấp thường bao hàm rằng các bên thoả thuận trước về phạm vi quyền hạn xét xử của một cơ quan không thiên vị. Cơ quan này có thể là một tổ chức được chỉ định trước hay được thành lập theo vụ việc cho mỗi trường hợp.

Các quyết định của những cợ quan này cần được tranh luận và chứng minh trên cơ sở các qui định và nguyên tắc đã được cấc bên thoả thuận. Quyết định là bắt buộc đối vói các bên. Hai biện pháp pháp lý cơ bản là giải quyết bằng trọng tài và toà án. Hệ thống hội thẩm với tính chất gần như mang tính pháp luật cũng là khuôn khổ quan trọng đối với việc giải quyết tranh chấp.

 

2. Giải quyết tranh chấp là gì?

Về khái niệm chung, giải quyết tranh chấp chính là Việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét và ra quyết định xử lý các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia định, kinh doanh, thương mại, lao động, trên cơ sỏ xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong vụ việc tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Tranh chấp quốc tế là sự tranh chấp xảy ra giữa hai bên hoặc nhiều bên quốc gia có chủ quyền. Tranh chấp quốc tế có thể xảy ra trong tất cả các lĩnh vực hoạt động quốc tế của các quốc gia, nhưng nổi cộm nhất, chủ yếu nhất là tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ bao gồm chủ quyền trên đất liền, trên các hải đảo, trên biển, trên không... Hiến chương Liên hợp quốc và Công pháp quốc tế đã xác định các nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế là giải quyết bằng phương pháp hòa bình, thương lượng; không được sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; giữ nguyên hiện trạng cho đến khi đạt đến thỏa thuận cuối cùng; các bên tranh chấp phải tự kiềm chế không tiến hành bất cứ hoạt động nào làm cho tình hình trở nên xấu đi.

 

3.  Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Trọng tài là Phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật quy định.

Trọng tài quốc tế là cơ quan hoặc phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà pháp luật cho phép được giải quyết bằng trọng tài. Trọng tài quốc tế chỉ có chức năng giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế quốc tế, các tranh chấp trong các lĩnh vực khác như tranh chấp đường biên giới trên đất liền, trên biển, ... không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài quốc tế mà được giải quyết thông qua khâu trung gian của tổ chức quốc tế hay của một nước thứ ba.

Trọng tài quốc tế được mô tả như việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thông qua các trọng tài viên do các bên lựa chọn, một thủ tục dẫn tới việc ra phán quyết trọng tài dựa trên sự tôn trọng luật pháp. Phán quyết của trọng tài là bắt buộc đối với các bên tranh chấp và thường là phán quyết cuối cùng không được kháng cáo.

Các qui tắc thành lập hội đồng trọng tài được quyết định trước khi xuất hiện một vụ tranh chấp hoặc là trên cơ sở của từng vụ việc, sau khi tranh chấp xảy ra. So lượng các trọng tài viên thường là số lẻ, phổ biến là 3 người. Trọng tài viên thứ 3 thường được chỉ định sau quyết định tập thể của cấc trọng tài đã được chỉ định, hoặc do các bên tham gia tranh chấp lựa chọn.

Có những phương pháp khác nhau để chỉ định trọng tài viên thứ 3 nếu các bên không đồng ý. Cách hiệu quả nhất là dựa vào quyết định của một cá nhân độc lập, - như Chủ tịch Tòa án Quốc tế hoặc là Tổng Thư ký của Toà Trọng tài Thường trực. Một biện pháp khác có thể tiến hành là lập một danh sách các trọng tài viên có đủ khả năng, được cả hai bên đồng ý với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn các trọng tài viên vào thời điểm hội đồng trọng tài được thiết lập.

Tuy nhiên, danh sách này không loại trừ sự lạm dụng của các bên nếu họ muốn tránh việc hoà giải bằng trọng tài. Thời hạn để lập hội đồng và quyết định cũng quan trọng đối với tính hiệu quả và sự thành công của thủ tục này.

 

4. Giải quyết tranh chấp trong các Hiệp định Thương mại Tự do

Các Hiệp định Thương mại Tự do của EFTA với các nước thứ 3 ký sau năm 1995 thì bên cạnh các thủ tục tham khảo còn có thêm một điều khoản trọng tài để giải quyết tranh chấp.

Liên quan đến những hiệp định trước đây, một thoả thuận sơ bộ đạt được trong hầu hết mọi trường hợp, trong việc đưa thủ tục trọng tài vào giai đoạn sau. Các điều khoản về trọng tài không có nghĩa là thay đổi các nguyên tắc cơ bản của việc giả quyết tranh chấp thân thiện, thông qua tham vấn trực tiếp hoặc tham vấn qua uỷ ban Hỗn hợp. Trọng tài chỉ được áp dụng như một kế sách cuối cùng và chỉ được viện dẫn nếu việc tham vấn không thành công sau một thời hạn đã ấn định.

Điều khoản về trọng tài trong các FTA của EFTA là một điều khoản cổ điển, mà trong đó mỗi bên tham gia vào tranh chấp sẽ bổ nhiệm một trọng tài viên mà người này có thể là công dân của quốc gia đó.

Hai trọng tài viên được chỉ định sẽ thoả thuận chỉ định một trọng tài viên thứ ba với sự đồng ý của cấc bên tham gia tranh chấp. Trọng tài viên thứ ba sẽ đóng vai trò là Chủ tịch của toà trọng tài.

Nếu một bên tham gia tranh chấp không chỉ định được một trọng tài viên hay không đồng ý về trọng tài viên thứ ba thì Chủ tịch Toà án Quốc tế sẽ đưa ra bổ nhiệm cần thiết. Một thời hạn rất nghiêm ngặt cũng được đưa ra cho những bước tiếp theo đê thành lập toà trọng tài.

Toà trọng tài sẽ giải quyết tranh chấp theo như thoả thuận và những quy tắc chung và nguyên tắc của luật quốc tế. Công ước Viên về Luật Thương lượng là một ví dụ tốt của những quy tắc này.

Toà trọng tài quyết định các quy tắc thủ tục sẽ được áp dụng, quyết định là cuối cùng và bắt buộc đối với các bên tharn gia tranh chấp, có nghĩa là vấn đề không thể được viện dẫn tới một cơ quan pháp lý khác và các bên phải bảo đảm nghĩa vụ ghi trong hiệp định quốc tế là thực hiện quyết định của toà.

Rất thú vị khi so sánh những điều khoản trọng tài trong các FTA của EFTA với các Hiệp định Hiệp hội của Cộng đồng châu Âu (EC). Sau này mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài viên và Uỷ ban Hỗn hợp sẽ chỉ định trọng tài viên thứ ba. Không đề ra các thủ tục rút lui nếu các bên không đồng ý về trọng tài viên thứ ba. Những yếu tố quan trọng khác như áp dụng luật nào, quy tắc thủ tục nào và việc phân bô chi phí đều chưa được quy định trong các Hiệp định Hiệp hội. Vì vậy, việc thành lập toà trọng tài phụ thuộc vào thoả thuận giữa các bên sau khi việc tranh chấp nảy sinh. Tuy nhiên, một khi toà trọng tài đã được thành lập thì các bên sẽ bị ràng buộc bởi quyết định của toà.

 

5. Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án

Các bên có thể đồng ý nêu nên một toà án quốc tế hay một toà án có sẵn bao gồm những thẩm phán độc lập có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại trên cơ sở luật pháp quốc tế và làm cho những quyết định trở nên bắt buộc với các bên. Những toà án này được coi là phù hợp hơn để đảm bảo sự hài hoà trong luật pháp quốc tế, đặc biệt ở những nơi có một hệ thống cung cấp cho các toà án quốc gia để tham chiếu những vấn đề diễn giải luật pháp liên quan. Việc thành lập ECJ của EC và Toà án EFTA đối với Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA) là những ví dự của loại toà án này.

Cần phải ghi nhó rằng những hiệp ước của EU và Hiệp định EEA không chỉ bao trùm việc lưu chuyển tự do hàng hoá mà còn cả tự do thương mại dịch vụ, lưu chuyển tự do nguồn vốn và con người. Bên cạnh đó Uỷ ban EU và cơ quan giám sát EFTA được trao quyền quyết định thực hiện cả hiệp ước của EU lẫn Hiệp định EEA, vì vậy khả năng để có thể rà soát về mặt pháp lý những quyết định này là một hoặc vài lý do để thành lập các tòa án loại này.

Theo Hiệp định EEA, một uỷ ban Hỗn hợp bao gồm một bên là các đại diện của EC và bên kia là đại diện của cấc Nhà nước EFTA có thể giải quyết những tranh chấp liên quan đến việc diễn giải hoặc áp dụng Hiệp định. Nếu tất cả các bên đồng ý một vấn đề diễn giải theo những quy tắc EEA, mà những quy tắc này giống hệt nội dung cấc quy tắc của EU, thì sẽ được trình cho ECJ.

 

6. Giới thiệu giải quyết tranh chấp trong ECJ

Đối với ECJ bao gồm 15 thẩm phán, mỗi người từ một Nhà nước Thành viên, 8 Tổng Luật sư sẽ giúp đỡ các thẩm phán. Toà án phải đảm bảo rằng luật pháp được xem xét trong việc diễn giải và áp dụng những hiệp ước EU.

EC có thể đưa một Nhà nước Thành viên ra Toà nếu cho rằng nước này không hoàn thành các nghĩa vụ theo luật pháp của EU, sau khi đã đưa ra quan điểm hợp lý, chứng minh rằng Nhà nước Thành viên đó đã không tuân thủ. Toà án cũng có quyền xem xét những vấn đề liên quan đến tính hợp pháp của một số hoạt động nhất định Nghị viện Châu Âu, của Hội đồng, của ủy ban và Ngân hàng Trung ương châu Âu. Các tự nhiên nhân hoặc pháp nhân cũng có thể, với một số điều kiện nhất định, phản đối một quyết định trước Toà nếu một quyết định có liên quan trực tiếp đến cá nhân họ. Toà Sơ thẩm có thể xét xử, đặc biệt về các trường họp cạnh tranh và chống phá giá, là chủ thể để kháng nghị đối với ECJ theo một số điều luật.

Một Nhà nước Thành viên có thể đưa một Nhà nước Thành viên khác ra Toà nếu cho rằng nước này không hoàn thành các nghĩa vụ theo luật pháp EU. Tuy nhiên, trước tiên vấn đề này sẽ được đưa ra ủy ban và ủy ban sẽ đưa ra quan điểm hợp lý về vấn đề này. Hơn nữa, ECJ có toàn quyền tài pháp lý với phán quyết sơ bộ do các toà án quốc gia yêu cầu về việc diễn giải luật pháp EU. 

  

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).