1. Bối cảnh ra đời của học thuyết Heckscher - Ohlin (H - O)

Eli Heckscher (vào năm 1919) và Bertil Ohlin (vào năm 1933) đã đưa ra cách giải thích khác về lợi thế so sánh, chứng tỏ lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt trong mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất. Học thuyết của hai ông xây dựng được gọi là học thuyết Heckscher - Ohlin (H - O).

 

2. Quan điểm chỉnh của học thuyết H - O

Bằng cách sử dụng khái niệm mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất, hai tác giả muốn đề cập đến mức độ có sẵn các nguồn lực như đất đai, lao động và vốn của một nước. Sự sẵn có các yếu tố khác nhau đó giải thích sự khác biệt về giá cả các yếu tố; cụ thể, độ dồi dào của yếu tố càng lớn thì giá cả của yếu tố đó càng rẻ.

Học thuyết H - o cho rằng: “Trong một nền kinh tế mở, mỗi nước sẽ có lợi nhất nếu hướng đến việc chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các hàng hóa mà việc sản xuất chúng sử dụng nhiều yếu tố có lợi (sẵn có hon và giá rẻ hon), nhập khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất chúng cần nhiều yếu tố có giá đắt hon và tương đối khan hiếm hon”. Như vậy, nước nào có thuận lợi về vốn nên chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng có hàm lượng vốn cao; nước nào có lao động rẻ nên chuyên môn hóa các mặt hàng có hàm lượng lao động cao; nước nào có đất đai, tài nguyên phong phú nên chuyên môn hóa các mặt hàng sử dụng nhiều tài nguyên.

Để đánh giá lợi thế so sánh đối với một sản phẩm, người ta phải dựa vào hai tiêu chí. Thứ nhất, liên quan đến việc đánh giá hàm lượng các yếu tố sản xuất được coi là rẻ ở nước đó. Thứ hai, là hệ số hiển thị lợi thế so sánh (Coefficient of Revealed Comparative Advantage - RCA). Công thức tính RCA đối với sản phẩm A của nước X như sau:

RCA — (Eax/Ex) : (EAW/EW)

- Trong đó:

Eax: kim ngạch xuất khẩu sản phẩm A của nước X

Ex: kim ngạch xuất khẩu của nước X

EAw: kim ngạch xuất khẩu sản phẩm A của thế giới

Ew: tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới

- Neu: RCA <1: Sản phẩm không có lợi thế so sánh

1 < RCA < 2,5: Sản phẩm có lợi thế so sánh

2,5 < RCA < 4,25: Sản phẩm có lợi thế so sánh cao

RCA > 4,25: Sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao

Hệ số RCA chỉ ra khả năng cạnh tranh xuất khẩu của một quốc gia về một sản phẩm xác định trong mối tương quan với mức xuất khẩu của thế giới ở sản phẩm đó.

 

3. Các giả định của học thuyết và minh chứng thực tế

a) Học thuyết H – O được xây dựng dựa trên các giả định:

Thế giới bao gồm hai quốc gia và sản xuất 2 mặt hàng giống nhau;

Mức độ hang bị các yếu tố ở mỗi quốc gia là cố định, mức độ trang bị các yếu tố ở hai quốc gia là khác nhau;

Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa hai quốc gia;

Các mặt hàng khác nhau sẽ có hàm lượng các yếu tố sản xuất khác nhau và không có sự hoán vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất (ví dụ: Vải luôn là mặt hàng có hàm lượng lao động cao, còn thép là mặt hàng có hàm lượng vốn cao);

Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hóa lẫn thị trường yếu tố sản xuất (mức giá trên thị trường là duy nhất và được xác định bởi quan hệ cung cầu, và trong dài hạn giá cả hàng hóa đúng bằng chi phí sản xuất);

Hai nước có quy mô tương đối giống nhau, không có nước nào được coi là nước nhỏ so với nước kia;

Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia;

Sở thích là giống nhau giữa hai quốc gia (nếu hai nước có cùng mức thu nhập và mức giá cả hàng hóa thì sẽ có xu hướng tiêu dùng lượng hàng hóa như nhau);

Thương mại tự do, chi phí vận chuyển bằng 0.

 

b) Học thuyết H - o được minh chứng trên thực tế:

Ví dụ, Mỹ trong một thời gian dài là một nước xuất khẩu lớn trên thế giới về hàng nông sản, điều này phản ánh một phần về sự dồi dào của Mỹ về diện tích đất có thể canh tác. Hay, Trung Quốc nổi trội về xuất khẩu những hàng hóa được sản xuất trong những ngành sử dụng nhiều lao động như là dệt may và giày dép. Điều này phản ánh mức độ dồi dào tương đối của Trung Quốc về lao động giá rẻ. Với Mỹ, vốn không có nhiều lao động giá rẻ, từ lâu đã là nước nhập khẩu chủ yếu những mặt hàng này.

 

4. Đánh giá học thuyết

4.1 Ưu điểm thuyết H - O

Thuyết H - O đã góp phần lý giải thêm nhiều hiện tượng của quan hệ thương mại quốc tế và được đánh giá là một trong các học thuyết có mức độ ảnh hưởng lớn trong kinh tế học quốc tế, góp phần quan trọng trong việc giải thích cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường.

So với thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, thuyết H - o đã chứng tỏ rằng lợi thế so sánh của một quốc gia không chỉ dựa trên sự khác biệt về năng suất lao động, mà rộng hơn, nó dựa trên sự khác biệt trong mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất (lưu ý rằng, mức độ sẵn có ở đây là tương đối, một nước không thể dồi dào ở tất cả các yếu tố sản xuất, mà có thể chỉ là một, hai yếu tố, còn lại lại thuộc về nước khác).

Chỉ với những giả thiết đơn giản và dựa trên khái niệm về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất, thuyết này không chỉ cho phép đưa ra dự đoán về cơ cấu sản xuất và thương mại của các quốc gia, mà còn giúp cho việc nghiên cứu một loạt các vấn đề liên quan đến giá cả các yếu tố sản xuất, tác động của sự tăng trưởng các yếu tố sản xuất đến quy mô sản xuất và thương mại.

Học thuyết tạo tiền đề cho các học thuyết mới sau này ra đời tiếp tục giải thích về một nền thương mại quốc tế hiện đại.

 

4.2 Nhược điểm thuyết H - O

- Cho đến những năm 50 của thế kỉ XX, địa vị của thuyết H - o đã gặp phải những thách thức nghiêm trọng, khi kết quả của các công trình kiểm chứng thực tế của thuyết này thường bị bóp méo bởi các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường, mà điển hình là công trình của nhà kinh tế Mỹ Wassily Leontief (người đạt giải Nobel kinh tế năm 1973) - thường được biết đến với tên gọi ngịch lý Leontief.

Nội dung chính của nghịch ỈỈLeontief:ỵ

Trong những năm 50 của thế kỉ XX, Mỹ là nước giàu và dồi dào về vốn nhất thế giới. Nhưng nghiên cứu của Leontief đã chỉ ra rằng, các mặt hàng xuất khẩu của Mỹ ít sử dụng về vốn horn là các mặt hàng nhập khẩu. Điều này trái ngược với dự báo của thuyết H - o. Kết quả nghiên cứu trên được gọi là nghịch lý Leontief.

Đã có nhiều nỗ lực để giải thích nghịch lý Leontief, nhưng cho đến nay chưa có cách giải thích hoàn toàn nào được chấp nhận, do đó nghịch lý Leontief vẫn tiếp tục tồn tại và thách đố các nhà kinh tế. Một số cách lý giải cho nghịch lý Leontief:

+ Sai lầm đo lường. Leontief chỉ xem xét đến vốn vật chất, nhưng có thể Mỹ dồi dào nhất về vốn con người.

+ Chính sách bảo hộ thương mại. Có thể Mỹ đã áp đặt rào cản thương mại lên các mặt hàng nhập khẩu sử dụng nhiều lao động, còn các mặt hàng sử dụng nhiều vốn thì không, nên các mặt hàng thâm dụng vốn này được nhập khẩu dễ dàng hơn.

+ Năng suất lao động của công nhân Mỹ. Có thể công nhân Mỹ có năng suất lao động cao hơn nhiều so với công nhân các nước khác, nên về thực chất Mỹ là nước dồi dào về lao động, không phải dồi dào về vốn.

Nghịch lý có thể xảy ra nếu có sự đảo ngược mức độ sử dụng các yếu tố giữa các nước, ví dụ như sản xuất gạo ở Mỹ sử dụng nhiều về vốn, trong khi đó lại sử dụng nhiều lao động tại Việt Nam.

+ Thương mại giữa các nước công nghiệp phát triển. Ngày nay, già nửa thương mại quốc tế diễn ra giữa các quốc gia công nghiệp phát triển - những nước được coi là có mức độ trang bị các yếu tố sản xuất tương đối giống nhau. Do đó, mâu thuẫn với giả định của lý thuyết H - o, theo đó mức độ trang bị các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia là khác nhau.

- Ngoài ra, một giả định quan trọng của thuyết H - o là công nghệ sản xuất tại các quốc gia là giống nhau. Điều này không sát với thực tế hiện nay. Bởi các nước công nghiệp phát triển thường có công nghệ phát triển hơn các nước đang và kém phát triển. Những khác biệt về công nghệ có thể dẫn tới sự khác biệt về năng suất lao động - yếu tố quan trọng trong trao đổi thương mại quốc tế.

Luật Minh KHuê (tổng hợp từ các nguồn trên internet)