1. Khái niệm về nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự ?

Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là những định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận.

Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là kim chỉ nam cho mọi hoạt động ừong tố tụng hình sự. Các nguyên tắc này không chỉ định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự mà còn định hướng cho việc xây dựng pháp luật trong thực tiễn. Một số nguyên tắc cụ thể hoá quy định của Hiến pháp. Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được quy định trong BLTTHS 2015. Ngoài ra, một số nguyên tắc còn được ghi nhận trong các vãn bản pháp luật khác liên quan như Luật tổ chức toà án nhân dân, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân...

2. Ý nghĩa về nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự ?

- Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự góp phần bảo đảm cho quá trình tiến hành tố tụng thực hiện một cách thống nhất;

- Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong tố tụng hình sự;

- Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự góp phần động viên, tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức và mọi người tham gia vào việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tăng cường dân chủ trong tố tụng hình sự;

- Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự còn góp phần định hướng xây dựng pháp luật tố tụng hình sự.

3. Nội dung các nguyên tắc bộ luật tố tụng hình sự ?

Là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật tố tụng hình sự chịu sự chi phối của các nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật như: Pháp chế xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật V.V.. Ngoài ra, những quy tắc chung của hệ thống pháp luật khi vận dụng vào pháp luật tố tụng hình sự cũng có những biểu hiện đặc thù. Trong thực tiễn cũng như lí luận hiện nay có nhiều cách phân loại nguyên tắc nhưng trong khuôn khổ của giáo trình này chúng tôi phân thành hai nhóm, nhóm nguyên tắc đặc thù của tố tụng hình sự và nhóm nguyên tắc khác.

3.1 Những nguyên tắc đặc thù

- Nguyên tắc suy đoán vộ tội (Điều 13 BLTTHS năm 2015, khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013)

Toà án là cơ quan xét xử, quyết định của toà án đặc trưng ở tính dứt điểm của nổ, bản án của toà án xác định một người có tội hay không có tội. vấn đề này được thể hiện rõ nét hơn ở khoản 4 Điều 326 BLTTHS 2015: Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì hội đồng xét xử tuyên bổ bị cáo không có tộỉ”.

Trước đây, nguyên tắc này được quy định tại Điều 9 BLTTHS năm 2015 với nội dung “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật ” nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 thì: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Điều 14 Luật tổ chức toà án nhân dân cũng có quy định tương tự. Nguyên tắc này thực ra không phải là mới bởi đã được Điều 9 Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Pháp quy định: “Mọỉ người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho việc bắt giữ đều bị pháp luật xử phạt nghiêm khắc”. Điều 11 Bản tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 cũng quy định: “Mỗi bị cảo dù đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khỉ được chứng mình là phạm tội theo pháp luật tại một phiên toà xét xử công khai với mọi đảm bảo biện hộ cần thiết

Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc này với nội dung sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khỉ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Khỉ không đủ và không thể làm sảng tỏ cần cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội

Như vậy, khi chưa được chứng minh theo trình tự, thủ tục do luật quy định, chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội phải được coi là người không có tội. Do không được coi là người có tội nên các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được đối xử với người bị buộc tội như người có tội, kể cả trường hợp họ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất như tạm giam. Vì vậy, BLTTHS 2015 quy định chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ chấp hành án phạt tù.

Pháp luật và thực tiễn tố tụng đều thừa nhận không phải mọi người bị buộc tội đều là chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, khi buộc tội một người phải có căn cứ theo quy định của pháp luật. Mặt khác, BLTTHS 2015 quy định nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Khi chứng núnh tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ làm rõ chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội. Trong giai đoạn điều tra nếu không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm mà thời hạn điều tra đã hết thì cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án (Đây không phải là căn cứ duy nhất để đình chỉ điều tra hoặc đình chi vụ án). Trong giai đoạn xét xử nếu không đủ căn cứ để xác định bị cáo có tội thì hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố bị cáo không có tội. Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự cũng cho thấy khuynh hướng nhìn nhận người bị buộc tội như là người có tội, dù lỗi của họ chưa được chứng minh. Trong tâm lí học, khuynh hướng này được coi là khuynh hướng buộc tội, còn trong khoa học pháp lí thì coi đó là “suy đoán có tội”. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng oan, sai thường xuất phát từ khuynh hướng này. Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc điển hình của tố tụng tranh tụng.

Từ phân tích trên, Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc này với nội dung được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhẩt, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS 2015 quy định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục luật định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Mọi nghi ngờ trong quá trình tố tụng đều phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội (Trong trường hợp này, cợ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật để loại trừ nghi ngờ đó nhưng vẫn không chứng minh được bị can, bị cáo phạm tội.).

Thừa nhận nguyên tắc này trong tố tụng hình sự là biểu hiện tiến bộ, nhân đạo thể hiện sự thay đổi trong nhận thức của những người tiến hành tố tụng nói riêng và quan điểm của Nhà nước ta nói chung nhằm tôn trọng và đề cao hơn nữa quyền con người trong tố tụng hình sự.

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16 BLTTHS 2015; khoản 4 Điều 31, khoản 7 Điều 103 Hiến pháp năm 2013).

Quyền bào chữa của người bị buộc tội được quy định nhằm bảo đảm cho họ trình bày quan điểm của mình đối với việc bị buộctội, đưa ra cácchứng cứ cần thiết, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, quyền bào chữa là tất cả các quyền mà pháp luật quy định để người bị buộc tội chống lại sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội là điều kiện cần thiết để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xử lí vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trên cơ sở quy định tại khoản 4 Điều 131 Hiến pháp năm 2013, Điều 16 BLTTHS 2015 đã ghi nhận nguyên tắc này với nội dung sau:

+ Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Nếu người bị buộc tội không tự bào chữa thì có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Người khác có thể là bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội, trợ giúp viên pháp lí.

Luật sư là người bào chữa chuyên nghiệp, hoạt động trong đoàn luật sư. Luật sư chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội.

Bào chữa viên nhân dân là người được Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt ưận cử để bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong những trường hợp theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lí là viên chức nhà nước, làm việc tại trung tâm trợ giúp pháp lí nhà nước, được chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ trợ giúp viên pháp lí theo đề nghị của giám đốc sở tư pháp, tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa;(I)

Để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội trong những trường hợp do pháp luật quy định, nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ, trung tâm trợ giúp pháp lí nhà nước cử trợ giúp viên pháp lí, yêu cầu luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lí hoặc đề nghị Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong những trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015.

Người đại diện của người bị buộc tội là cá nhâncũng có thể tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa trong trường hợp người bị buộc tội là người có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa, người có nhược điểm về tâm thần hoặc người dưới 18 tuổi. Người đại diện của người bị buộc tội có thể là cha, mẹ, người giám hộ của họ. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho pháp nhân.

Quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa. Hai quyền này có thể song song tồn tại mà không loại trừ lẫn nhau. Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa đồng thời có quyền nhờ người bào chữa. Trong trường hợp nhờ người bào chữa thì họ vẫn có quyền tự bào chữa.

+ Luật tố tụng hình sự không chỉ quy định người bị buộc tội có quyền bào chữa mà còn quy định những bảo đảm cần thiết để quyền bào chữa được thực hiện. Cụ thể như họ phải được giao nhận quyết định khởi tố, bản kết luận điều tra sau khi kết thúc điều tra, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử... để chuẩn bị bào chữa. Trong quá trình bào chữa họ có thể sử dụng mọi biện pháp họp pháp để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ tội.

+ Không chỉ quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Điều 16 BLTTHS năm 2015 còn quy định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Điều này thể hiện nhà nước không chỉ coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của bị hại, đương sự. Bị hại, đương sự có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

+ Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa; bảo đảm cho bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.

Nguyên tắc này góp phần giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và đầy đủ, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

- Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14 BLTTHS năm 2015; Điều 31 Hiến pháp năm 2013)

Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm là một trong những nguyên tắc mới được quy định trong BLTTHS năm 2015 với nội dung: Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà BLHS 2015 quy định là tội phạm.

Theo quy định trên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố, điều tra, viện kiểm sát không được truy tố, toà án không được xét xử và tuyên bố một người phạm tội khi hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện đã được giải quyết và xử lí bằng một bản án của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Nếu đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì cơ quan có thẩm quyền phải kịp thời ra quyết định đình chỉ điều tra hay đình chỉ vụ án tuỳ theo từng giai đoạn tố tụng.

Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm góp phần quan trọng trong việc bảo đảm trình tự tố tụng; bảo đảm tính ổn định và giá trị pháp lí của các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật; bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự.

- Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15 BLTTHS năm 2015)

Để hoạt động đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả, mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện và xử lí, luật tố tụng hình sự đã ghi nhận nguyên tắc này như sau:

+ Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thầm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội, xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ hách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Trong quá trình tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm và những người có thẩm quyên tiến hành tố tụng khác không được thiên vị, định kiến, phải thu thập và đánh giá chứng cứ của vụ án trên tất cả các phương diện, cân nhắc kĩ mọi tình tiết có thể ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án.

+ Mọi tình tiết thu được trong quá trình giải quyết vụ án đều được đánh giá trên cơ sở pháp lí để rút ra kết luận về vụ án. Nguyên tấc này muốn được thực hiện tốt thì đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để làm chủ nghề nghiệp, tức là phải được đào tạo về nghiệp vụ, nắm được những quy định của pháp luật, có tư duy pháp lí, có thói quen và phương pháp giải quyết các vấn đề pháp lí. Việc xác định sự thật khách quan cùa vụ án phải dựa trên quan điểm Mác-Lênin về vấn đề nhận thức vì nó ảnh hưởng lớn đến việc xác định đúng đắn vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.

+ Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan CÓ thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Luật tố tụng hình sự quy định người bị buộc không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Mặt khác, người bị buộc tội cũng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Muốn xác định được người bị buộc tội có tội hay không thì phải dựa trên cơ sở những chứng cứ đã thu được trong vụ án để xem xét. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, người bị buộc tội có quyền đưa ra những chứng cứ để chứng minh là mình vô tội. Trên cơ sở những chứng cứ rút ra từ những lời khai của người bị buộc tội, kết hợp những chứng cứ khác cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định người bị buộc tội có tội hay không có tộị.

- Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều 17 BLTTHS năm 2015)

Để nâng cao trách nhiệm của các chủ thểcó thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, BLTTHS 2015 đã quy định trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự với nội dung:

+ Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình.

+ Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Quy định trên đã xác định rõ cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện những quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chịu trách nhiệm về những hành vi và quyết định của mình. Pháp luật cho phép họ được tiến hành các hoạt động tố tụng và ra các quyết định cần thiết như bắt người, tạm giữ, tạm giam... tiến hành các hoạt động khám xét, khám nghiệm... Nếu có các căn cứ luật định thì các chủ thể trên có thể ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án... Trường hợp họ không tuân thủ các quy định của pháp luật thì tùy theo mức độ vi phạm mà phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Đối với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như các cơ quan của bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm... tuy không phải là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng khi tiến hành các hoạt động tố tụng cũng phải tuân theo nguyên tắc trên.

Đoạn 2 Điều 17 quy định trách nhiệm của những người thực hiện các hoạt động tố tụng, mặc dù không nói rõ chức danh nhưng có thể hiểu đó là trách nhiệm cá nhân. Bất cứ người nào vi phạm pháp luật trong việcgiữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Những người này không nhất thiết phải là người tiến hành tố tụng mà họ có thể là người của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong hoạt động thi hành án. Nếu vi phạm có thể xử lí kỉ luật, xử lí hành chính và nặng hơn thì xử lí về hình sự như tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội...

- Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lí vụ án hình sự (Điều 18BLTTHS 2015)

Trong quá trình tiến hành tố tụng, để bảo đảm phát hiện nhanh chóng và kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, BLTTHS 2015 quy định rõ trách nhiệm khởi tố và xử lí vụ án hình sự. Theo đó, khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp được BLTTHS 2015 quy định để xác định tội phạm và xử lí người phạm tội, pháp nhân phạm tội. Không được khỏi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do pháp luật quy định.

Nguyên tắc này xác định rõ trách nhiệm khởi tố và xử lí vụ án hình sự là cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án. Đối với các cơ quan khác, tổ chức không có quyền khởi tố vụ án hình sự nhưng trong phạm vi trách nhiệm của mình phải phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm như phải báo tin ngay về tội phạm xảy ra trong cơ quan, tổ chức mình cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát biết.

Ngoài cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà áncó thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, BLTTHS 2015 còn quy định một số cơ quan khác cũng có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Đó là các cơ quan của bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư,các cơ quan khác của công an nhận dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan nói trên không giống nhau và được quy định cụ thể tại Điều 164 BLTTHS năm 2015.

Việc khởi tố vụ án hình sự chỉ được tiến hành khi xác định hành vi có dấu hiệu của tội phạm và theo trình tự mà BLTTHS 2015 quy định. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lí để tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo. Sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp điều tra cần thiết theo quy định của pháp luật để xác định tội phạm và xử lí người phạm tội.

- Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự (Điều 20 BLTTHS năm 2015, khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Điều 1 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014).

Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hai chức năng đặc trưng của viện kiểm sát. Theo đó, viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Điều 20 BLTTHS năm 2015 quy định trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự với những nội dung sau:

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lí kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.

Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố, quyết định truy tố người phạm tội ra trước toà án.

Quyền công tố là quyền của viện kiểm sát nhân danh nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công to chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà không có trong các lĩnh vực khác. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm... đến khi vụ án được giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định đình chỉ tố tụng đã có hiệu lực pháp luật.

Để thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự hay nói cách khác để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đúng pháp luật, Nhà nước còn giao cho viện kiểm sát các quyền năng tố tụng khác. Do vậy, có thể hiểu rằng thực hành quyền công tố là việc viện kiểm sát thực hiện các quyền năng tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Khi thực hiện chức năng này viện kiểm sát có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng..., áp dụng những biện pháp do BLTTHS 2015 quy định để phát hiện, xử lí kịp thời, nghiêm minh vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này. Cũng như thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là chức năng hiến định của viện kiểm sát với nội dung trực tiếp giám sát mọi hoạt động tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng... nhằm bảo đảm mọi hoạt động tố tụng được tiến hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hai chức năng độc lập của viện kiểm sát nhưng có mối liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó mỗi hoạt động công tố đều là tiền đề cho hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật và ngược lại.(1) Hai chức năng của viện kiểm sát có mối quan hệ tác động lẫn nhau nhằm bảo đảm cho quá trình tố tụng được tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều được xử lí kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội.

- Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 30 BLTTHS năm 2015)

Theo nguyên tắc này, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự, Khi giải quyết vấn đề này, về nội dung, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng quy định của pháp luật dân sự; về thủ tục tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trường hợp có những vấn đề không được pháp luật tố tụng hình sự quy định thì áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết những vấn đề bồi thường, bồi hoàn chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Nguyên tắc này là cơ sở pháp lí cho việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, bảo đảm giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, đúng đắn và tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng...; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi cần phải có những quy định pháp luật đầy đủ, cụ thể và thống nhất điều chỉnh việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ngoài việc phải nắm vững và tuân thủ những quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tô tụng hình sự còn phải nắm vững và tuân thủ những quy định của pháp luật dân sự và pháp luật tô tụng dân sự.

- Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 31 BLTTHS năm 2015, khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013)

Quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cùa người bị oan đã được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: Khi một người qua một quyết định chung thẩm bị kết án về một tội hình sự và sau đó bản án bị huỷ bỏ hoặc nếu người đó lại được tuyên là vô tội... thì người chịu hình phạt... theo luật có quyền yêu cầu được bồi thường...(1) Trách nhiệm chứng minh tội phạm là nghĩa vụ của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các chủ thể này phải xác định sự thật của vụ án khách quan, toàn diện và đầy đủ. Trong quá trình tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình. Trong thực tiễn tố tụng, không loại trừ những trường hợp làm oan, sai ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

Những nguyên tắc này hiện nay được quy định tại khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013và Điều 31 BLTTHS năm 2015. Nội dung thể hiện ở những điểm sau:

+Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.

Người bị oan, bị xử lí trái pháp luật là người bị giữ, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, người bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định người đó không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi của họ không cấu thành tội phạm hoặc họ đã bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định xử lí trái pháp luật. Những hoạt động và quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã gây ra những hậu quả bất lợi đối với họ, các quyền con người, quyền công dân cơ bản của họ bị vi phạm, nên họ có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự.

+ Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hôi danh dự, quyền lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, ừái pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra.

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định rõ ràng, cụ thể phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự; các thiệt hại nhà nước không bồi thường; chủ thể có trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp cụ thể... Việc bồi thường được tiến hành trên cơ sở thương lượng và theo trình tự, thủ tục luật định. Các điều 18, 32, 34, 35, 36, 41 - 51 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

+ Người khác bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại.

Ngoài người bị giữ trong trường họp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật, những người khác bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra cũng có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại.

Nguyên tắc này có ý nghĩa bảo đảm khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra; nâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền trong các hoạt động tố tụng, giúp cho việc giải quyết vụ án đúng đắn và hợp pháp. Nguyên tắc này thể hiện sự kiên quyết của Đảng và Nhà nước ta trong việc khắc phục các trường hợp làm oan, sai đối với người tham gia tố tụng và xử lí những người có trách nhiệm, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, qua đó nâng cao uy tín của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Để thực hiện nguyên tắc này cần phải có những quy định pháp luật đầy đủ, cụ thể và hợp lí làm cơ sở cho việc giải quyết bồi th­ường, khôi phục danh dự cho người bịthiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra; có cơ chế phù hợp, có hiệu quả để thực hiện; nâng cao trình độ nhận thức của công dân để họ biết và thực hiện tốt quyền được yêu cầu khôi phục danh dự và bồi thường thiệt hại.

3.2 Những nguyên tắc khác

- Nguyên tắc bảo đảm pháp 'chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự (Điều 7 BLTTHS năm 2015)

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc bao trùm nhất được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ những quy định chung cho đến những quy định cụ thể. Đây là nguyên tắc pháp lí cơ bản nhất trong hoạt động của cơ quan, tổ chức và công dân được quy định ở Điều 8 Hiến pháp năm 2013 “Nhà nước được tồ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lí xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

Trong tố tụng hình sự, nguyên tắc này bảo đảm cho cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được kiên quyết, triệt để, kịp thời, bảo đảm giáo dục người phạm tội, đồng thời ngăn chặn việc làm oan người vô tội và tránh việc hạn chế các quyền con người, quyền công dân trái pháp luật. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa biểu hiện cụ thể trong tố tụng hình sự như sau:

+ Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hànhtố tụng và những người tham gia tố tụng hình sự... phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của BLTTHS. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định.

+ Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cũng như biện pháp nghiệp vụ trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nhất thiết phải theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm cưỡng chế chỉ áp dụng đối với người phạm tội, nghiêm cấm làm oan người vô tội.

+ Tất cả quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự đều dựa trên cơ sở của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự...

- Nguyên tắc tôn trọngvà bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (Điều 8 BLTTHS năm 2015)

Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ghi nhận: “Mọi người đều có quyền được bảo vệ bằng các toà án quổc gia có thẩm quyền với phương tiện pháp lí có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã được hiến pháp và pháp luật công nhận ”. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ. Vì vậy, việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân là một trong những nhiệm vụ của pháp luật nói chung cũng như pháp luật tố tụng hình sự nói riêng. Luật tố tụng hình sự là công cụ sắc bén của Nhà nước trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, thể hiện rõ quyền lực Nhà nước. Trong quá trình tố tụng, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành những hoạt động tố tụng và ra những quyết định tố tụng có tính bắt buộc đối với cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có liên quan. Trong các hoạt động và quyết định đó, có những hoạt động và quyết định động chạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân đã được Hiến pháp quy định. Đó là quyền năng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng để các chủ thể này thực hiện nhiệm vụ của mình. Điều đó đòi hỏi phải xác định trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng quyền con người, quyền và lợi ích họp pháp của cá nhân. Theo đó,khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích họp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.

Nguyên tắc này có tính khái quát cao, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân được quy định trong Hiến pháp được thể hiện ở nhiều nguyên tắc khác của tố tụng hình sự: Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 9 BLTTHS2015); bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10 BLTTHS 2015); bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân (Điều 11 BLTTHS 2015); bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (Điều 12 BLTTHS 2015)...

Theo quy định tại Điều 8 BLTTHS năm 2015, nội dung của nguyên tắc này là xác định trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, thể hiện ở những nội dung sau:

+ Phải tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tham gia tố tụng;

+ Chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng trong những trường họp cần thiết và theo đúng quy định của pháp luật;

+ Thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng. Nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa, cần kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó.

Nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc bảo đảm các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tăng cường dân chủ trong tố tụng hình sự. Đồng thời, nguyên tắc này cũng góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo đảm việc xác định sự thật vụ án được khảch quan, toàn diện và đầy đủ.

Để có cơ sở thực hiện nguyên tắc này cần phải có những quy định cụ thể. Những quy định đó phải xác định rõ nội dung quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; xác định rõ những điều kiện cần thiết để áp dụng các biện pháp tố tụng; quy định rõ trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có hành vi vi phạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Các quy định này cần phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội để đảm bảo tính khả thi, tránh tình trạng dân chủ hình thức.

Ngoài ra, cần có đội ngũ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ và có đạo đức nghề nghiệp. Quyền con người, các quyền cơ bản của cá nhân có được tôn trọng và bảo vệ hay không là phụ thuộc vào việc thực thi pháp luật của những chủ thể này. Bên cạnh đó, phải tăng cường giáo dục ý thức pháp luật của nhân dân để họ nhận thức rõ và thực hiện tốt hơn các quyền của mình và cần có cơ chế phù hợp tổ chức thực hiện.

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 9 BLTTHS năm 2015, Điều 16 Hiến pháp năm 2013)

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật xác định vị trí của mọi người như nhau trong lĩnh vực hoạt động nhà nước và xã hội cũng như tham gia các hoạt động tố tụng hình sự, không có phân biệt.

Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lí theo pháp luật. Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Sự bình đẳng trước pháp luật thể hiện ở những điểm sau:

+ Bất cứ người nào phạm tội, dù họ là ai cũng phải bị xử lí theo quy định của pháp luật hình sự. Pháp luật không có quy định riêng cho từng cá nhân cụ thể, tài sản và địa vị xã hội không mang lại đặc quyền trước toà án và pháp luật.

+ Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia tố tụng hình sự. Ví dụ: Nếu tham gia tố tụng với tư cách bị can, bị cáo họ đều có quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 60, Điều 61 BLTTHS 2015; nếu tham gia tố tụng với tư cách bị hại họ đều có quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 62 BLTTHS 2015...

+ Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiến hành tố tụng theo một trình tự, thủ tục thống nhất đối với các vụ án.

+ Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế. Pháp nhân phải chịu ưách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân được thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại Chương XXIX BLTTHS năm 2015 và thủ tục này được áp dụng thống nhất với các pháp nhân thực hiện hành vi mà BLHS2015 quy định là tội phạm. Nếu pháp nhân tham gia tố tụng với cùng một tư cách tố tụng (cùng là bị can, bị cáo, bị hại, đương sự...) thì pháp nhân bình đẳng về các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà pháp luật quy định cho các chủ thể đó.

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10 BLTTHS năm 2015, Điều 20 Hiến pháp năm 2013)

Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được quy định trong tất cả các bản Hiến pháp của nước ta và ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế như: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 (ƯDHR); Công ước vê các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người năm 1984 (CAT)... Đáp ứng đòi hỏi: “phải có các biện pháp hữu hiệu để phòng chống tra tấn ở bất cứ lãnh thổ nào dưới thẩm quyền pháp lí của mình” và “tra tấn được coi là một tội phạm hình sự”. BLHS năm 2015 đã có những quy định phù hợp. Theo đó, Điều 373 BLHS năm 2015 quy định, người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng... mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kì hình thức nào thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Với tinh thần đó, Điều 10 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thận thể với nội dung sau:

+ Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát, trừ trường họp phạm tội quả tang;

+ Việc giữ người trong trường họp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của BLTTHS;

+ Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kì hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.

Quy định này đòi hỏi cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự phải tuân thủ quy định của pháp luật. Chỉ có toà án hoặc viện kiểm sát mới có thẩm quyền quyết định hoặc phê chuẩn lệnh bắt. Trưởng cơ quan điều tra, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra lệnh thì lệnh này phải được viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành. Đồng thời quy định này góp phần vào việc ngăn ngừa những trường hợp bắt, giam, giữ trái pháp luật đe doạ sự bất khả xâm phạm vê thân thể của con người.

- Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân (Điều 11 BLTTHS năm 2015, Điều 19 Hiến pháp năm 2013)

+ Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản.

+ Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lí theo pháp luật.

+ Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.

Nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc cụ thể hoá quyền con người, quyền cá nhân trong tố tụng hình sự, không chỉ góp phần vào việc bảo vệ quyền con người, quyền cá nhân mà còn góp phần bảo hộ danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân trong tố tụng hình sự. Việc thực hiện nguyên tắc này góp phần duy trì và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Khi xã hội càng phát triển thì nguyên tắc này càng phải được tôn trọng hơn bao giờ hết. Việc quy định nguyên tắc này thể hiện sự tiến bộ, văn minh và dân chủ của pháp luật, góp phần bảo vệ các quyền về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân trước sự xâm hại của tội phạm và được tôn trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (Điều 12 BLTTHS năm 2015; Điều 21, Điều 22 Hiến pháp năm 2013)

Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân có nội dung sau:

+ Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và cảc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.

+ Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.

Theo quy định trên thì hành vi xâm phạm trái pháp lụật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân đều là vi phạm pháp luật. BLHS năm 2015 cũng có quy định tội xâm phạm chỗ ở của người khác tại Điều 158 và tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác tại Điều 159.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Như vậy, những quyền này cũng có thể bị hạn chế theo quy định của luật để phục vụ việc điều tra, khám phá tội phạm. Cụ thể là, sau khi khởi tố vụ án hình sự, trong quá trình điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt như: ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Những thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự mà không được sử dụng vào mục đích khác.

Nguyên tắc này góp phần và việc bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, kịp thời theo quy định của pháp luật.

- Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người có thẩm quyền tiến hành, người tham gia tố tụng (Điều 21 BLTTHS năm 2015)

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là chủ thể tiến hành hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự. Đổ sự thật của vụ án được xác định khách quan, chính xác đòi hỏi những người này phải thật sự vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Đối với người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến là người không có quyền và lợi ích pháp lí liên quan đến vụ án, họ tham gia tố tụng nhằm góp phần xác định sự thật của vụ án, pháp luật cũng đòi hỏi sự vô tư của họ khi tham gia vào tố tụng hình sự.

Điều 21 BLTTHS năm 2015 quy định: Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến không được tham gia tố tụng nếu có lí do cho rằng họ cố thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ.

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện như sau:

+ Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến phải giữ được sự vô tư khi làm nhiệm vụ của mình trong mọi trường họp. Họ phải tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, tiến hành công việc của mình với thái độ khách quan, vô tư, không được để những quan hệ, những tình cảm cá nhân chi phối vào công việc, không được có thái độ thiên vị hay định kiến đối với bất kì người tham gia tố tụng nào.

+ Nếu có lí do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, họ sẽ không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, họ sẽ phải từ chối tiến hành hoặc tham gia tố tụng hoặc bị đề nghị thay đổi.

Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này là điều kiện cần thiết để thực hiện một số các nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng hình sự như các nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; xác định sự thật của vụ án; bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật... Có thể nói nguyên tắc này là đòi hỏi pháp lí chi phối mọi hoạt động của những người tiến hành tố tụng.

Một số điều kiện thực hiện nguyên tắc: cần có những quy định pháp luật đầy đủ, rõ ràng, thống nhất làm cơ sở cho việc thực hiện nguyên tắc này như quy định về thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch... Những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến phải nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, cần chủ động, tự giác từ chối tiến hành hoặc tham gia tố tụng nếu thuộc những trường hợp luật định.

- Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia (Điều 22 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013).

Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia phản ánh tư tưởng thu hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử.

Nội dung của nguyên tắc này như sau:

+ Việc xét xử sơ thẩm của toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân, của toà án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Hội thẩm là người được bầu hoặc cử tham gia vào hoạt động xét xử. Với kinh nghiệm sống của mình, cùng với kiến thức chuyên môn, hội thẩm góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật của vụ án. Hội thẩm là người trực tiếp làm việc và sinh hoạt xã hội cùng quần chúng nhân dân, họ mang đến phiên toà những suy nghĩ và ý kiển quần chúng đối với vụ án góp phần giúp toà án xử lí vụ án chính xác.

+ Khi xét xử theo thủ tục rút gọn không có hội thẩm tham gia. Những vụ án được áp dụng thủ tục rút gọn là những vụ án có đủ các điều kiện để có thể giải quyết nhanh chóng và rút gọn thủ tục hơn so với những vụ án được tiến hành theo thủ tục chung. Việc quy định xét xử theo thủ tục rút gọn chỉ do một thẩm phán giải quyết nhằm đơn giản hơn về thủ tục xét xử và qua đó rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, bảo đảm việc xét xử nhanh chóng, chính xác.

Thực hiện tốt nguyên tắc này góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử và phòng ngừa tội phạm.

- Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 23 BLTTHS năm 2015, khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013).

Nội dung nguyên tắc cụ thể như sau:

+ Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Toà án là cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp, quyết định bị cáo có tội hay không có tội. Vì thế, quyết định của toà án phải khách quan, chính xác và độc lập xét xử phải là một nguyên tắc hoạt động của toà án. Khi xét xử các vụ án hình sự, hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết của vụ án, căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà công khai và căn cứ vào pháp luật để xác định tội phạm cũng như hình phạt đối với người phạm tội. Các thảnh viên của hội đồng xét xử (thẩm phán và hội thẩm) không để cho bất cứ ai vì bất cứ lí do gì chi phối mà xử lí không đúng pháp luật. Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm không được dựa vào quyết định, kết luận của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, mà phải tự mình nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, kết hợp với những chứng cứ mới thu được tại phiên toà xét xử để có kết luận riêng của mình đối với từng vấn đề. Thực tiễn cho thấy toà án chỉ có thể quyết định xử lí vụ án chính xác khi đã mở phiên toà. Mối quan hệ giữa toà án với các cơ quan khác của Nhà nước được xác định như sau:

Các cơ quan quản lí không được can thiệp vào việc xét xử của toà án, vì công tác xét xử đã được Nhà nước giao cho toà án. Toà án không lệ thuộc vào ý kiến của cơ quan điều tra, viện kiểm sát. Neu qua phiên toà, toà án thấy cần thiết xử lí khác với các ý kiến của các cơ quan trên thì phải căn cứ vào pháp luật mà xử lí chính xác.

Toà án cấp trên hướng dẫn toà án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử nhưng không quyết định trước về chủ trương xét xử cụ thể một vụ án buộc toà án cấp dưới phải theo. Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm không chỉ độc lập với các cơ quan nhà nước nói trên mà còn độc lập với yêu cầu của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, độc lập với người bào chữa, độc lập giữa các thành viên của hội đồng xét xử với nhau... Cá nhân thẩm phán và hội thẩm độc lập trong suy nghĩ, xét xử tập thể và quyết định theo đa số.

Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập, không có nghĩa là tách rời đường lối chính sách của Đảng. Đảng không chỉ đạo xét xử từng vụ án cụ thể nhưng Đảng chỉ ra đường lối xét xử trong từng giai đoạn cách mạng và đối với từng loại án. Độc lập xét xử cũng không có nghĩa là không có sự kiểm sát và giám sát. Toà án cấp trên có quyền thẩm tra những bản án và quyết định của toà án cấp dưới và hủy bỏ chúng ữong trường hợp trái pháp luật hoặc không có cơ sở đúng đắn. Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập không có nghĩa là xét xử tuỳ tiện mà phải tuân theo pháp luật. Hoạt động của thẩm phán, hội thẩm và luật pháp có mối liên hệ luôn luôn thống nhất với nhau và không thể tách rời nhau. Xixêrôn - một luật sư của thời La Mã cổ đại từng nói: "Quan toà, đỏ là một đạo luật biết nói, còn đạo luật là một vị quan toà câm".

Như vậy, “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Độc lập là điều kiện cần thiết để thẩm phán và hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để thẩm phán và hội thẩm độc lập khi xét xử. Mối quan hệ này là ràng buộc. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử tuỳ tiện, độc đoán.

+ Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm dưới bất kì hình thức nào thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

Nguyên tắc này không chỉ xác định độc lập xét xử là một nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hoạt động xét xử của thẩm phán, hội thẩm mà còn quy định rất rõ nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tuyệt đối tôn trọng hoạt động xét xử của thẩm phán, hội thẩm, không được can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm dưới bất kì hình thức nào. Đồng thời nguyên tắc này cũng xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm dưới bất kì hình thức nào thi tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật. Đây là nội dung mới được đưa vào nguyên tắc, thể hiện rõ quan điểm của nhà nước ta trong việc nâng cao tính độc lập của toà án.

Nguyên tắc này đảm bảo cho toà án thực hiện tốt các chức năng xét xử của mình theo quy định của pháp luật, đồng thời đề cao trách nhiệm của thẩm phán và hội thẩm. Muốn cho nguyên tắc này thực hiện tốt thì Nhà nước phải có pháp luật hoàn chỉnh, vì nó là điều kiện để đảm bảo cho toà án có chỗ dựa vững chắc trong công tác xét xử. Ngoài ra, thẩm phán và hội thẩm phải là những người có trình độ chuyên môn, chính trị và tinh thần đấu tranh bảo vệ pháp luật.

- Nguyên tắc toà án xét xử tập thể (Điều 24 BLTTHS năm 2015, khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013).

Để đảm bảo cho việc xử lí vụ án được thận trọng, khách quan, chống độc đoán, Điều 24 BLTTHS năm 2015 quy định: "Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số". Nội dung nguyên tắc này thể hiện như sau:

+ Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hội đồng xét xử có thể gôm hai thẩm phán và ba hội thẩm. Đối với những vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì hội đồng xét xử gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm. Trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn thì chỉ do một thẩm phán xét xử.

+ Hội đồng xét xử phúc thẩm gôm ba thẩm phán. Trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn thì chỉ do một thẩm phán tiến hành.

+ Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm gồm 3 hoặc 5 thẩm phán, trong trường hợp bản án hoặc quyết định bị kháng nghị có tính chất phức tạp hoặc hội đồng 3 hoặc 5 thẩm phán không thống nhất được khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án thì phải được xét lại bằng hội đồng toàn thể Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (Xem: Điều 382 BLTTHS năm 2015).

Trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn, các quyết định của toà án đều phải được sự thống nhất của tập thể, không quyết định theo ý kiến riêng của cá nhân, mọi vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử đều phải được thảo luận tập thể, thẩm phán không được tự mình quyết định.

Khi xét xử, toà án quyết định theo đa số. Các thành viên của hội đồng xét xử phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề, thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được để vào hồ sơ.

- Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai (Điều 25 BLTTHS năm 2015; khoản 2 Điều 31, khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 2013).

Theo quy định của Điều 25 BLTTHS năm 2015: Toà án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng. Toà án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên toà, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mĩ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đưorng sự thì tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.

Việc xét xử phải công bằng và công khai, khoản 1 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nãm 1966 quy định: “Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị”. Việc xét xử công bằng, công khai bảo đảm quyền con người cho người tham gia tố tụng, đồng thời bảo đàm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm.

Việc xét xử của toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên toà, trừ trường hợp luật định. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải công khai. Trong thực tế có nhiều vụ án số người muốn tham dự phiên toà quá đông, toà án có thể chỉ mời một số đại biểu cơ quan đoàn thể đến dự phù hợp với số chỗ ngồi của phòng xử án để đảm bảo trật tự phiên toà. Ví dụ: Các vụ án hiếp dâm, người bị hại phải kể tỉ mỉ các tình tiết của vụ án, người giám định cũng cần phải đưa ra kết luận về người bị hại, người làm chứng cũng phải trình bày những tình tiết mà họ biết về vụ án. Nêu vụ án được xét xử công khai, với sự tham dự của nhiều người thì sẽ làm cho người bị hại không dám kể chi tiết về những tình tiết của vụ án xảy ra. Tâm trạng đó có thể xảy ra đối với bị cáo, người làm chứng... và như vậy việc xác định sự thật của vụ án sẽ gặp khó khăn. Trường hợp này toà án có thể quyết định xử kín. Nếu toà án xử kín thì người không có nhiệm vụ không được tham dự phiên toà xét xử đối với toàn bộ hay một phần vụ án.

Nguyên tắc xét xử công khai góp phần vào việc giáo đục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân giám sát hoạt động xét xử của toà án. Mặt khác, nguyên tắc này có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của toà án nói chung cũng như thẩm phán và hội thẩm nói riêng trước quần chúng.

- Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26 BLTTHS năm 2015, khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013).

+ Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Muốn cho vụ án được giải quyết một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thì bên buộc tội, bên gỡ tội và những người khác có quyền và lợi ích hợp pháp cần được giải quyết trong vụ án đều phải được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ và đưa fa những yêu cầu. Trước đây, quyền bình đẳng trong việc đưa chứng cứ, đưa yêu cầu của các bên liên quan trọng vụ án chỉ được thực hiện vào thời điểm tại phiên toà. Theo quy định hiện nay, quyền này được mở rộng cả về phạm vi quyền, thời gian cũng như về chủ thể được hưởng quyền. Không chỉ là quyền đưa chứng cứ, yêu cầư mà phảp luật còn quy định các chủ thể được bình đẳng trong việc đánh giá chứng cứ; không chỉ giới hạn thời điểm thực hiện quyền chỉ tại phiên toà mà quyền bình đẳng trong việc đưa chứng cứ, yêu cầu, đánh giá chứng cứ được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án; các chủ thể tranh tụng bao gồm điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác.

Nguyên tắc này là cụ thể hoá nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng hình sự. Nội dung cơ bản của nguyên tấc này là bình đẳng giữa bên buộc tội và bên tội. Họ phải được bình đẳng với nhau trong việc đưa ra chứng cứ và đánh giá chứng cứ để chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Dựa vào chứng cứ của các bên đưa ra, toà án mới có thể giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đung pháp luật, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội.

Ngoài việc bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ và đánh giá chứng cứ, các bên buộc tội và gỡ tội... còn bình đẳng trong việc đ- ưa ra yêu cầu (như yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch), bình đẳng trong việc tranh luận trước toà án.

Nguyên tắc này đã xác định vị trí của toà án là trọng tài công minh cho các bên buộc tội và gỡ tội, tạo điều kiện cho toà án xử lí vụ án đúng pháp luật.

+ Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do viện kiểm sát chuyển đến toà án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên toà xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện cho kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước tòa án.

Nguyên tắc này xác định rõ trách nhiệm của toà án trong việc bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Các chủ thể có quyền tranh tụng phải được toà án triệu tập đầy đủ để tham gia phiên toà xét xử; toà án chỉ xét xử vắng mặt họ trong trường hợp vắng mặt phải vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định; toà án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước toà án; toà án phải nghiên cứu hồ sơ vụ án bảo đảm những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do viện kiểm sát chuyển đến toà án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp, làm phương tiện để chứng minh và tranh tụng tại phiên toà. Những hoạt động đó của toà án là những đòi hỏi cần thiết để có thể bảo đảm tranh tụng trong xét xử.

+ Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của BLHS 2015 để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lí vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên toà. Bản án, quyết định của toà án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên toà.

Toà án xét xử trực tiếp, không phải “án tại hồ sơ”, vì vậy tất cả các chứng cứ của vụ án phải được xem xét, đánh giá, làm rõ tại phiên toà. Việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ của toà án phải bảo đảm khách quan, toàn diện và đầy đủ, Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của BLHS để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lí vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên toà.

Bản án và quyết định của toà án là kết quả của hoạt động xét xử của toà án và phản ánh thực tế tranh tụng tại phiên toà. Vì vậy bản án, quyết định của tòa án phải cãn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên toà.

- Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (Điều 27 BLTTHS năm 2015, khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013).

Thực tế, chê độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đã được quy định trong luật tố tụng hình sự từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và được duy tri trong suốt quá trình phát triển của luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này thể hiện sự thận trọng của toà án trong việc xét xử và tôn trọng quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được chống lại bản án và quyết định của toà án. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, xã hội và nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kì mà những quy định về chế độ hai cấp xét xử có những nội dung cụ thể khác nhau nhưng xu hướng phát triển là ngày càng đảm bảo triệt để hơn việc thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, nguyên tắc này được thực hiện đối với tất cả các vụ án, không bị hạn chế trong bất kì trường hợp nào. Nguyên tắc này cũng là nguyên tắc hoạt động cơ bản của toà án tại hầu hết các nước trên thê giới, “pháp luật các nước đều quy định đương sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm”,^ trừ một số trường hợp ngoại lệ. Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng ghi nhận: ‘‘Bất cứ người nào bị kểt án là phạm tội đều có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đổi với mình theo quy định của pháp luật”. Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm

Điều 27 BLTTHS 2015 quy định nguyên tắc này với nội dung sau:

+ Chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm được bảo đảm. Bản án, quyết định sơ thẩm của toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTHS 2015. Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất. Khi xác định toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền theo sự việc, thẩm quyền theo đối tượng và thẩm quyền theo lãnh thổ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và quyết định của toà án chưa có hiệu lực pháp ngay, viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu toà án cấp trên trực tiếp xét xử vụ án một lần nữa.

+ Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do BLTTHS 2015 quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Xét xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai. Khi xét xử lại vụ án, toà án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm mà còn xét xử lại vụ án về nội dung. Bản án, quyết định phúc thâm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án và được đưa ra thi hành.

+ Đối với bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới theo quy định của BLTTHS 2015 thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Toà án cấp giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là một cấp xét xử, không xét xử lại vụ án về nội dung mà chỉ xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ cùa các bản án và quyết định đó. Khi giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, toà án không thực hiện chức năng xét xử mà thực hiện việc giám đốc xét xử của toà án cấp trên đôi với hoạt động xét xử của toà án cấp dưới.

Nguyên tắc này tạo điều kiện để viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có điều kiện thể hiện thái độ không nhất trí của mình đối với việc xét xử của toà án. Việc vụ án được xét xử qua hai cấp bảo đảm cho việc giải quyết vụ án chính xác và đúng đắn hơn, nâng cao chất lượng xét xử của toà án và qua đó lợi ích của Nhà nước, của các chủ thể tham gia tố tụng được đảm bảo. Đồng thời, việc quy định chỉ có hai cấp xét xử cũng tránh tình trạng vụ án được xét xử theo quá nhiều cấp, kéo dài quá trình tố tụng và đảm bảo hiệu lực của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Để thực hiện tốt nguyên tắc này cần phải có các quy định pháp luật cụ thể, đồng bộ và thống nhất điều chỉnh các hoạt động xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; giám đốc thẩm, tái thẩm của toà án theo đúng tinh thần của nguyên tắc đồng thời cũng cần tổ chức toà án phù hợp với việc phân cấp xét xử...

- Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của toà án (Điều 28 BLTTHS năm 2015)

Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, tuỳ theo từng vụ án mà toà án ra bản án hoặc các quyết định tố tụng nhằm giải quyết vụ án. Bản án và quyết định của toà án khi đã có hiệu lực pháp luật phải được nghiêm chỉnh chấp hành. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của toà án có nội dung sau:

+ Bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải nghiêm chỉnh chấp hành.

+ Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của toà án.

Bản án, quyết định của toà án là văn bản tố tụng khác nhau do toà án ban hành trong quá trình giải quyết vụ án. Bản án của toà án quyết định việc bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Theo quy định của BLTTHS 2015 thì khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự, toà án ra bản án, quyết định. Khi xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm toà án ra quyết định. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, toà án còn ra các quyết định khác như quyết định đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án...

Bản án, quyết định hoặc phân bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Quyết định của hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cá nhân, cơ quan và tổ chức hữu quan phải chấp hành bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Trường hợp không tự nguyện chấp hành thì sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng.

Việc xét xử của toà án nói chung, trong đó có việc xét xử các vụ án hình sự chỉ có ý nghĩa khi bản án, quyết định của toà án sau khi có hiệu lực pháp luật phải được thi hành trên thực tế. Nguyên tắc này không chỉ xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân liên quan trong việc thi hành bản án và quyết định của toà án.

- Nguyên tắc tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự (Điều 2ỈBLTTHS năm 2015)

Thể chế hoá quy định của Hiến pháp năm 2013, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải bảo đảm cho người tham gia tố tụng được sử dụng tiếng nói vâ chữ viểt của dân tộc mình. Để việc tiến hành tố tụng có hiệu quả, tạo điều kiện cho người tham gia tố tụng góp phần vào việc xác định sự thật vụ án cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mình, BLTTHS 2015 quy định tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là một nguyên tắc cơ bản với nội dung:

+ Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt.

+ Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này cần phải có người phiên dịch.

Theo quy định trên thì tiếng Việt (tiếng Kinh) được xác định là tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự. Tiếng Việt còn được hiểu là tiếng Việt Nam, dùng để phân biệt với các thứ tiếng khác trên thế giới. Do vậy, trong trường hợp có người tham gia tố tụng không biết tiếng Việt thì phải có người phiên dịch, không kể người đó là người Việt Nam hay người nước ngoài.

Việc BLTTHS 2015 quy định tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự không chỉ có ý nghĩa về pháp lí mà còn có ý nghĩa chính trị-xã hội.

- Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Điều 32 BLTTHS năm 2015, Điều 30 Hiến pháp năm 2013)

Điều 30Hiến pháp năm 2013 quy định “mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cả nhân có thấm quyển về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân... ”. Quyền khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức và quyền tố cáo của cá nhân đối với hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được cụ thể hoá trong quy định tại Điều 32 BLTTHS 2015 với nội dung sau:

+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sụ của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.

Quyền khiếu nại, tố cáo của cá nhân là quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Cơ quan, tổ chức cũng có quyền khiếu nại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Với tư cách là những người có quyền, lợi ích bị ảnh hưởng bởi những hành vi, quyết định tố tụng, họ có quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền khiếu nại chính là quyền được phản đối lại những hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền khi có căn cứ để cho rằng những hành vi, quyết định đó là trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và phải được tuân thủ triệt để ở các giai đoạn của tố tụng hình sự. Trong quá trình tố tụng, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo.

+ Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người tố cáo, khiếu nại, cơ quan tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục.

BLTTHS 2015 không chỉ quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của cá nhân, quyền khiếu nại của cơ quan, tổ chức đối với hành vi, quyết định của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà còn quy định trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo đó bằng các biện pháp cụ thể. Thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định tại Chương XXXIII BLTTHS năm 2015.

- Nguyên tắc kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự (Điều 33 BLTTHS năm 2015)

Trước đây, việc giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được đề cập trong đoạn 3 Điều 8 BLTTHS năm 2015. Đó là một trong những nội dung của nguyên tắc “Việc tham gia tố tụng hình sự của các tổ chức xã hội và công dân”. Trong BLTTHS năm 2015, nội dung này đã được tách ra thành nguyên tắc cơ bản và được bổ sung đầy đủ, rõ ràng hơn, để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp, theo tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị: “Tăng c- ường sự giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân, của các tổ chức xã hội và của nhân dân đối với công tác tư pháp”. Trong BLTTHS năm 2015, ngoài nội dung giám sát của cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử nguyên tắc này còn có thêm nội dung kiểm tra của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở những điểm sau:

+ Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra việc tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền; thực hiện kiểm soát giữa các cơ quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Hoạt động kiểm tra trong tố tụng hình sự là việc xem xét, nhận xét, đánh giá thực trạng tiến hành tố tụng. Kiểm soát là xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Hoạt động kiểm tra, kiểm soát là những hoạt động mang tính hành chính và phải được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện thường xuyên, liên tục để đánh giá kết quả các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền của mình. Để bảo đảm kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả, việc kiểm tra, kiểm soát phải thực hiện theo một tiếntrình qua các bước khác nhau: Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xuất phát từ thực tiễn tố tụng xây dựng kế hoạch kiểm tra, kiểm soát thường xuyên hoặc định kì, xác định thực trạng hoạt động tố tụng, so sánh với các quy định pháp luật để xác định mức độ sai phạm trong hoạt động tố tụng, tìm nguyên nhân và thực hiện các biện pháp cần thiết để sửa chữa sai phạm, bảo đảm hoạt động tố tụng được tiến hành đúng pháp luật. Để thực hiện tốt việc kiểm tra, kiểm soát trong tố tụng hình sự đòi hỏi cơ quan, người có thẩm quyền phải chủ động, nghiêm túc tiến hành kiểm tra, kiểm soát thường xuyên, khi phát hiện sai phạm trong hoạt động tố tụng phải thực hiện các biện pháp khắc phục, xử lí nghiêm cá nhân vi phạm pháp luật, tránh tình bao che sai phạm.

+ Cơ quan nhà nước, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Chủ thể có quyền giám sát theo quy định này là cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đối tượng của việc giám sát là các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Phạm vi giám sát là các hoạt động của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Biện pháp giám sát theo quy định của nguyên tắc này: Nếu phát hiện những hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của BLTTHS 2015.

+ Nguyên tắc này cũng xác định ữách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật. Điều 33 BLTTHS năm 2015 quy định: Nếu phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật.

Việc giám sát áp dụng pháp luật trong hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bảo đảm tính công khai, rõ ràng, minh bạch trong hoạt động của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; tăng cường trách nhiệm và tính chủ động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân thông qua cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động tư pháp. Qua đó góp phần bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội.

Để thực hiện việc giám sát có hiệu quả cần phải có những quy định rõ ràng, thống nhất, hợp lí về việc giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng làm cơ sở cho việc thực hiện; nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật và tinh thần chủ động của nhân dân và đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu dân cử trong đấu tranh chống những vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực sự tôn trọng những kiến nghị của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu dân cử và nghiêm túc xem xét giải quyết những kiến nghị đó.

Mọi vướng mắc pháp lý về tố tụng hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê (biên tập)