5) Giáo dục, đào tạo và thông tin; 6) Sự hợp tác giữa các hợp tác xã; và 7) Quan tâm đến cộng đồng.

Quán triệt và cụ thể hoá các nguyên tắc tổ chức và hoạt động trên của phong trào hợp tác xã thế giới, các nhà làm luật của Việt Nam đã đề ra 07 nguyên tắc của việc tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã ở Việt Nam trong Luật Hợp tác xã. Đó là:

 

1. Nguyên tăc thành viên tự nguyện và mở rộng

Theo nguyên tắc này thì cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã. Các hợp tác xã được thành lập và hoạt động trước hết là nhằm giúp đỡ, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ của những người lao động, của các hộ gia đình, của các pháp nhân ở thành thị và nông thôn có những hạn chế về vốn, tư liệu sản xuất và tài sản, đất đai. Sự giúp đỡ, hỗ ượ của hợp tác xã có tác dụng cải thiện các điều kiện sống và làm việc của người lao động, bảo đảm nâng cao mức sống cũng như an sinh xã hội cho các cá nhân, hộ gia đình và các pháp nhân.

Hiệu quả kinh tế - xã hội của phương thức sản xuất, kinh doanh tập thể trong hợp tác xã, những ưu việt của hoạt động giúp đỡ, tương trợ của hợp tác xã đối với quá trình sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình hoặc các pháp nhân tạo ra sức hút đối với người lao động, các hộ gia đình và các pháp nhân. Tự họ sẽ quyết định việc nên gia nhập hay không nên gia nhập hợp tác xã. Mặt khác, sau một thời gian tham gia vào sản xuất, kinh doanh chung trong hợp tác xã, nếu thấy hiệu quả kinh tế - xã hội mà hợp tác xã đem lại không như mong muốn, người lao động, các hộ gia đình hay các pháp nhân cũng có quyên ra khỏi hợp tác xã. Đó là một quyền hoàn toàn chính đáng của người lao động, của các hộ gia đình và của các pháp nhân.

Như vậy, việc gia nhập hợp tác xã hoặc ra khỏi hợp tác xã là do người lao động, các hộ gia đình, các pháp nhân hoàn toàn tự nguyện. Các cơ quan nhà nước hoặc bất cứ cá nhân, tổ chức nào đều không có quyền ép buộc người lao động, các hộ gia đình hoặc các pháp nhân phải gia nhập hay buộc họ phải ra khỏi hợp tác xã. V.I. Lênin đã từng nhấn mạnh rằng:

“Công xã nông nghiệp được thiết lập nên một cách tự nguyện. Việc chuyển sang lối canh tác chung ruộng đất chi có thể thực hiện được do tinh thần tự nguyện mà thôi, về mặt này, Chỉnh phủ công nông không thể dùng một biện pháp cưỡng chế nào. Pháp luật cấm dùng biện pháp đó ”.

 

2. Nguyên tắc kiểm tra dân chủ bởi các thành viên

Theo nguyên tắc này thì hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên. Quyền có việc làm và thu nhập tương xứng với sức lao động đã bỏ ra, quyền được mưu cầu hạnh phúc là một quyền chính đáng của con người, của mỗi công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật khác. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế của những người lao động, của các hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có những khó khăn về vốn, tài sản... nên việc kết nạp thành viên của hợp tác xã không bị giới hạn bởi giới tính, địa vị xã hội, chủng tộc, dân tộc hay tôn giáo. Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên, nếu có vốn, có tài sản, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không đang chịu hách nhiệm hình sự, không bị tước quyền công dân, không bị tập trung cải tạo, giáo dục, không bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quyết định của Toà án trong các vụ phá sản hoặc chống tham nhũng; các hộ gia đình, các pháp nhân, nếu hiểu rõ và chấp nhận điều lệ, nội quy của hợp tác xã, có nguyện vọng được tham gia sản xuất, kinh doanh theo phương thức tập thể, thì đều có thể được hợp tác xã kết nạp làm thành viên hợp tác xã.

Việc hợp tác xã kết nạp rộng rãi những người lao động, các hộ gia đình và các pháp nhân đủ điều kiện là thành viên của hợp tác xã có tác dụng thu hút được nhiều nguồn lực từ xã hội cho sự ổn định, vững mạnh và phát triển liên tục của hợp tác xã.

 

3. Nguyên tắc về sự tham gia kinh tế của xã viên hợp tác xã

Theo nguyên tắc này thì các thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tẻ chức, quản lý và hoạt động của hợp tảc xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chỉnh, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ.

Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế vừa đối nhân vừa đối vốn. Hợp tác xã vừa quan tâm đến nhân thân của người lao động, năng lực của các hộ gia đình và của các pháp nhân muốn gia nhập hợp tác xã, vừa phân phối thu nhập theo số vốn mỗi thảnh viên đã đóng góp, lao động họ đã làm được và mức độ họ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Chế độ quản lý nội bộ hợp tác xã được thực hiện bởi cơ chế dân chủ rộng lớn nhất trong số các loại hình tổ chức kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành viên hợp tác xã có quyền bình đẳng, có quyền biểu quyết ngang nhau (mỗi thành viên có một phiếu biểu quyết) không phụ thuộc vào số vốn góp của mỗi thành viên trong việc quyết định các vấn đề về tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên đóng góp sáng kiến, vật lực, năng lực cũng như khả năng của họ vào quá trình sản xuất, kinh doanh tập thể, hợp tác xã có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định trong điều lệ của hợp tác xã.

 

4. Nguyên tắc Độc lập và tự chủ

Theo nguyên tắc ngày thì hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật.

Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể có tư cách pháp nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường. Nhà nước xây dựng những chính sách và hệ thống pháp luật tạo thuận lợi và khuyến khích các hợp tác xã tự chủ và năng động trong hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh tập thể, đem lại các lợi ích thiết thực và hiệu quả kinh tế cao cho tập thể cũng như cho mỗi thành viên của hợp tác xã, đóng góp ngày càng tăng cho ngân sách nhà nước, cải thiện đời sống và môi trường sống của cộng đồng dân cư.

Bên cạnh việc được hưởng các điều kiện thuận lợi cho việc tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, các hợp tác xã cững phải tự chịu ưách nhiệm về các hoạt động sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ của mình trước Nhà nước và trước pháp luật. Điều đó có nghĩa là hợp tác xã có quyền tự do, tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, nhưng đồng thời cũng phải hoạt động trên cơ sở và trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Hợp tác xã không được sản xuất, kinh doanh những ngành nghề bị pháp luật nghiêm cấm, không được trốn lậu thuế, không được tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, không được làm ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của người tiêu dùng cũng như của toàn xã hội. Nếu vi phạm pháp luật về hành chính, về kinh tế..., hợp tác xã phải chịu trách nhiệm vật chất và hành chính trước cơ quan cấp giấy chứng nhận hợp tác xã, trước các cơ quan tài phán, như: Toà án và Trọng tài kinh tế.

 

5. Nguyên tắc về giáo dục, đào tạo và thông tin

Theo nguyên tắc này thì các thành viên hợp tác xã và hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo họp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ. Thu nhập của hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đoi với hợp tác xã tạo việc làm.

Hợp tác xã kết nạp một cách rộng rãi người lao động, các hộ gia đình và các pháp nhân làm thành viên của hợp tác xã, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, năng lực kinh tế... của họ, nếu họ thỏa mãn một số điều kiện nhất định và chấp nhận điều lệ, nội quy, quy chế của họp tác xã. Do đó, khi đã ừở thành thành viên của họp tác xã, mọi người lao động, các hộ gia đình và các pháp nhân có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện các cam kết, các hợp đồng dịch vụ đã ký kết với hợp tác xã và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định trong điều lệ, nội quy của hợp tác xã. Điều đó bảo đảm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh tập thể của hợp tác xã được phát triển đúng hướng, hợp tác xã được tiếp thêm các nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu theo định hướng và kế hoạch đã đề ra.

Trong hợp tác xã, các khoản thu nhập, lợi nhuận có được từ nhiều nguồn khác nhau: từ việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm, hàng hoá, từ việc cung cấp các dịch vụ cho các thành viên và các hộ gia đình, các pháp nhân là thành viên của hợp tác xã. Do vậy, nếu các thành viên hợp tác xã thực hiện được nhiều ngày công lao động với năng suất, chất lượng cao, sản xuất ra nhiều hàng hoá, sản phẩm, sử dụng nhiều dịch vụ do hợp tác xã cung ứng (như bán giống cây trồng, vật nuôi, bán phân bón, thuốc trừ sâu, cung cấp điện, nước...) thì càng góp phần tăng thu nhập và lợi nhuận cho hợp tác xã. Từ đó, thu nhập và lợi nhuận của hợp tác xã sẽ được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, theo khoản vốn mà họ đã đóng góp vào hợp tác xã và theo công sức lao động mà thành viên đã đóng góp vào hợp tác xã tạo việc làm.

 

6. Nguyên tắc về sự hợp tác giữa các hợp tác xã

Theo nguyên tắc này thì hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên hợp tác xã, cản bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã.

Một đặc điểm thể hiện tính xã hội và nhân văn sâu sắc của hợp tác xã, làm cho mô hình hợp tác xã khác hẳn các loại hình doanh nghiệp khác, là ngoài việc thực hiện việc sản xuất, kinh doanh theo phương thức tập thể để tạo được thu nhập và lợi nhuận, họp tác xã còn rất quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục vãn hoá, đào tạo chuyên môn và bồi dưỡng nghiệp vụ cũng như cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho các thành viên hợp tác xã và cộng đồng dân cư. Nhiều hợp tác xã đã xây dựng nhà văn hoá, thư viện, lớp mẫu giáo, trung tâm thể dục thể thao, hệ thống điện, nước, truyền thanh... để cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho các thành viên và cộng đồng dân cư tại địa phương. Nhiều hợp tác xã cũng đã sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ sở văn hoá, giáo dục ở địa phương và của hợp tác xã để thông tin, tuyên truyền rộng rãi trong dân cư về bản chất, tính ưu việt của phương thức sản xuất, kinh doanh tập thể của hợp tác xã để thu hút thêm người lao động, các hộ gia đình và các doanh nghiệp khác vào hợp tác xã.

 

7. Nguyên tắc quan tâm đến cộng đồng

Theo nguyên tắc ngày thì hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên hợp tác xã và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phưomg, vùng, quốc gia và quốc tể.

Hợp tác xã là mô hình tổ chức kinh tế rất phù hợp với năng lực và nguyện vọng của nhiều người lao động, nhiều hộ gia đình và nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành thị và nông thôn. Các hợp tác xã cũng đã và đang có những đóng góp ngày càng to lớn vào việc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy, các địa phương, các vùng trong một nước, mỗi nước lại có những điều kiện kinh tế - xã hội riêng; trình độ, nhận thức và kinh nghiệm của các thành viên hợp tác xã trong việc tổ chức, điều hành hoạt động của hợp tác xã cũng khác nhau, nên phong trào hợp tác xã ở các địa phương, các vùng, các quốc gia không thể giống nhau. Các kinh nghiệm tốt, các thành công, cảc điển hình tiên tiến trong việc tổ chức, hoạt động của hợp tác xã ở các địa phương, các vùng, các nước cần được phổ biến rộng rãi và chia sẻ một cách thường xuyên, liên tục.

Do vậy, việc chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên hợp tác xã và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của các hợp tác xã.

Trong giai đoạn mới, nếu phong trào hợp tác xã ở Việt Nam tiếp tục thực hiện được đầy đủ và đúng đắn 07 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nêu trên, chắc chắn các hợp tác xã ở Việt Nam sẽ ngày càng ổn định và phát triển sâu rộng, góp phần tích cực và ngày càng to lớn vào quá trình tạo thêm việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp thành viên và cải thiện ngày càng tốt hơn các điều kiện sống và làm việc cho các thành viên hợp tác xã cũng như đóng góp ngày càng to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)