- 1. Chủ nghĩa hiện thực
- 2. Chủ nghĩa hiện thực cổ điển (classical realism)
- 3. Đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực cổ điển (classical realism)
- a. Bản Chất Con Người (Nature Human)
- b. Quan Niệm Về Nhà Nước (Understanding of the State)
- c. Sự Mưu Cầu Quyền Lực Của Nhà Nước (State Pursuit of Power)
- d. Sự Cân Bằng Trong Quyền Lực (Balance of Power)
- 4. Chủ nghĩa tân hiện thực (neo-realism)
- 5. Chủ nghĩa hiện thực mới
1. Chủ nghĩa hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực là trào lưu nghệ thuật lấy hiện thực xã hội và những vấn đề có thực của con người làm đối tượng sáng tác. Chủ nghĩa hiện thực hướng tới cung cấp cho công chúng nghệ thuật những bức tranh chân thực, sống động, quen thuộc về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh.
Trong văn học, những tác phẩm có tính hiện thực và giá trị hiện thực tồn tại rất lâu trước khi chủ nghĩa này xuất hiện. Thế nhưng chủ nghĩa hiện thực, với tư cách một trào lưu, một phương pháp, chỉ xuất hiện vào thế kỉ 19 ở các quốc gia Pháp, Ý, Anh, Nga, sau đó ảnh hưởng tới các nước khác. Từ "réalisme" xuất hiện lần đầu tiên ở Pháp vào năm 1826 trên tạp chí Mercure de France, do nhà phê bình Champfleury sử dụng. Với hội họa, Pháp cũng chính là nơi ra đời của hội họa hiện thực. Trong suốt thế kỷ 18 và 19, Pháp là trung tâm về nhiều mặt: xã hội, chính trị, văn hóa... Dù nhiều xu hướng hội họa liên tiếp ra đời, chủ đề chính vẫn là tôn giáo, lịch sử, thần thoại với lối vẽ kinh điển. Gustave Courbet đã xuất hiện và tổ chức cuộc triển lãm mang tên Chủ nghĩa hiện thực của Gustave Courbet 1819 - 1877 vào năm 1855 tại Paris. Ông chính là người đại diện cho hội họa hiện thực. Nghệ thuật của Courbet đã hưởng đến các họa sĩ lớp sau và họ đã đi những bước đầu tiên để lập nên nền tảng cho hội họa hiện đại sau này.
Chủ nghĩa hiện thực, bên cạnh chủ nghĩa tự do, là một trong hai trường phái lí thuyết quan trọng nhất trong quan hệ quốc tế, được hình thành từ lâu đời và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tư duy hoạch định chính sách đối ngoại của các quốc gia.
Mặc dù có nhiều phân nhánh khác nhau, nhìn chung các nhà hiện thực chia sẻ các giả định chủ yếu sau:
Chủ thể chính trong hệ thống quốc tế là các quốc gia - dân tộc có chủ quyền trong khi các chủ thể khác như các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các công ty đa quốc gia, các nhóm hay các cá nhân không có vai trò đáng kể. Về bản chất, hệ thống quan hệ quốc tế là một hệ thống vô chính phủ, không tồn tại một quyền lực đứng trên các quốc gia nhằm điều chỉnh và quản lí mối quan hệ giữa họ với nhau.
Chính vì vậy mục tiêu của các quốc gia là tìm cách nâng cao quyền lực nhằm tự đảm bảo an ninh và sự tồn tại của mình trong hệ thống thông qua việc cố gắng giành được càng nhiều nguồn lực càng tốt.
Điều này dẫn tới việc các quốc gia luôn ở trong thế cạnh tranh và đối đầu lẫn nhau (trong nhiều trường hợp dưới hình thức chiến tranh, xung đột vũ trang) nhằm theo đuổi lợi ích quốc gia dưới dạng quyền lực, khiến cho các quốc gia không thể duy trì việc hợp tác một cách lâu dài. Có thể thấy đa phần các giả định này đều trái ngược với các giả định của chủ nghĩa tự do.
Quyền lực trong góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực không chỉ là phương tiện để các quốc gia đạt đến các mục tiêu của mình, mà tự nó cũng chính là một mục tiêu, thông qua hai giả định.
- Quyền lực là động lực cho các chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Câu hỏi tại sao quốc gia lựa chọn chính sách A hay chính sách B, chỉ có thể được giải thích bằng lăng kính quyền lực. Morgenthaus trả lời bằng một câu được xem như nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực: "Chính trị thế giới, giống như tất cả hình thái chính trị khác, là cuộc chiến để đạt quyền lực. Mục đích cuối cùng của chính trị quốc tế, dù nằm ở đâu cũng là quyền lực".
- Quyền lực được định nghĩa là khả năng ảnh hưởng và thay đổi hành vi của các quốc gia hay tổ chức khác theo lợi ích của mình. Nói một cách khác, cuộc chiến giành quyền lực có thể hiểu là cuộc chiến nhằm giành khả năng gây ảnh hưởng đối với hành vi và suy nghĩ của các quốc gia khác. Theo Morgenthaus, đây là một đặc tính bất biến của chính trị quốc tế. Trong một thế giới vô chính phủ, mục tiêu của mỗi quốc gia là trang bị cho mình càng nhiều quyền lực càng tốt để đảm bảo an ninh và sinh tồn. Tuy nhiên cuộc chạy đua tranh giành quyền lực dẫn tới việc các quốc gia đối mặt với một "thế lưỡng nan về an ninh".
Kể từ khi ra đời, chủ nghĩa hiện thực đã có các bước phát triển với nhiều bổ sung khác nhau. Hiện nay, chủ nghĩa hiện thực được chia làm hai phân nhánh chính, đó là chủ nghĩa hiện thực cổ điển (classical realism) và chủ nghĩa tân hiện thực (neo-realism), hay còn gọi là chủ nghĩa hiện thực cấu trúc (structural realism).
2. Chủ nghĩa hiện thực cổ điển (classical realism)
Chủ nghĩa hiện thực cổ điển lần đầu tiên xuất hiện dưới hình thức hiện đại trong thời kỳ giữa các cuộc chiến tranh (1918-1939), trong thời kỳ giữa các cuộc chiến tranh đã phát triển như một sự nổi bật của các lý thuyết duy tâm và không tưởng trong thời đại đó. Những ý tưởng này đã bị phê phán bởi những người theo chủ nghĩa hiện thực trong những năm 1930, phải đến sau Thế chiến 2, Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển trở nên phổ biến hơn. Trong những năm 1960 và 70, Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển đã không còn phổ biến và trở nên ít nổi bật hơn khi các nhà lý thuyết Hiện thực Cấu trúc đưa ra những lập luận chống lại.
Chủ nghĩa hiện thực cổ điển cho rằng chính bản chất ích kỷ, ham muốn quyền lực của con người đã khiến các quốc gia và các cá nhân đặt lợi ích dưới dạng quyền lực lên trên các giá trị khác. Nói cách khác, chủ nghĩa hiện thực cổ điển nhấn mạnh cấp độ phân tích cá nhân trong chính trị quốc tế. Theo đó, Hans Morgenthaus, một trong những học giả chủ chốt của tư tưởng hiện thực cổ điển nhận xét rằng con người, tự bản thân nó, là con người của quyền lực, thể hiện qua việc chiếm đoạt hay tích lũy các nguồn lực để đạt đến mục đích cá nhân của mình. Dưới góc nhìn xã hội học, xu hướng theo đuổi quyền lực là nguyên tắc có thể tìm thấy trong mọi kết cấu tổ chức giữa người với người: từ nhà thờ cho tới các hội đoàn. Nơi nào có các nhóm liên kết giữa các cá nhân thì nơi đó xuất hiện các cuộc chiến giành quyền lực. Vì vậy, các quốc gia theo đuổi quyền lực và chiến tranh xảy ra giữa các quốc gia bắt nguồn từ bản chất ích kỷ, ham muốn quyền lực của con người, đặc biệt là cá nhân các nhà lãnh đạo.
3. Đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực cổ điển (classical realism)
Chủ nghĩa hiện thực cổ điển (classical realism) có một số đặc điểm sau đây:
a. Bản Chất Con Người (Nature Human)
Lý thuyết này tỏ ra bi quan về hành vi của con người và nhấn mạnh sự tư lợi riêng trong mỗi người ảnh hưởng đến hành vi của con người, chứ không phải nguyện vọng đạo đức hoặc đạo đức cao hơn. Các nhà hiện thực cổ điển tin rằng tầm nhìn bi quan của họ về bản chất con người được phản ánh trong chính trị và cuộc sống xã hội.
b. Quan Niệm Về Nhà Nước (Understanding of the State)
Lý thuyết hiện thực cổ điển tin rằng khi các quốc gia thay đổi thì hệ thống xã hội cũng vậy. Với lý thuyết tân hiện thực phản đối và không cho rằng đó là đúng. Những người theo chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển không xem các quốc gia là nhất thể và thừa nhận rằng chúng được định hình bởi các mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội cũng như các chuẩn mực khác; do quan niệm này về nhà nước mà họ không coi việc đưa ra các quyết định để tạo lợi ích cho quốc gia hợp lý.
c. Sự Mưu Cầu Quyền Lực Của Nhà Nước (State Pursuit of Power)
Các nhà hiện thực cổ điển giải thích xung đột trong xã hội và việc nhà nước theo đuổi quyền lực là kết quả của bản chất ham muốn của con người. Người ta giả thuyết rằng trong bản chất con người luôn bị thúc đẩy bởi sự ham muốn quyền lực, chủ nghĩa hiện thực trong hội hoạ
d. Sự Cân Bằng Trong Quyền Lực (Balance of Power)
Có hai khía cạnh chính đối với sự cân bằng quyền lực trong chủ nghĩa hiện thực cổ điển: Thứ nhất, sự cân bằng quyền lực được hiểu là kết quả phát sinh trong quá trình cạnh tranh quyền lực, xảy ra do sự theo đuổi quyền lực liên tục của nhiều quốc gia để thống trị những quốc gia khác. Thứ hai, cân bằng quyền lực còn được hiểu là những nỗ lực của các quốc gia nhằm tạo ra một trạng thái cân bằng thông qua việc sử dụng các lực lượng lý tưởng hoặc vật chất như liên minh. Những người theo chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển đặt nặng vấn đề vào những trạng thái tự cao tự đại dẫn đến không ngừng khao khát quyền lực của con người. Điều này trái ngược với những người theo chủ nghĩa tân hiện thực, họ cho rằng sự theo đuổi quyền lực của con người và xã hội là do trong hoàn cảnh bắt buộc và bị ảnh hưởng bởi nhiều tác động ngoại khác.
4. Chủ nghĩa tân hiện thực (neo-realism)
Về chủ nghĩa tân hiện thực (neo-realism) nhấn mạnh cấp độ phân tích hệ thống quốc tế khi phân tích nguyên nhân các quốc gia tìm cách theo đuổi quyền lực. Theo đó, các nhà tân hiện thực cho rằng trong một hệ thống vô chính phủ, sự phân bổ quyền lực tương đối giữa các quốc gia trong hệ thống chính là yếu tố then chốt đối với an ninh của mỗi quốc gia. Vì thế các quốc gia tìm cách nâng cao quyền lực, vì càng có nhiều quyền lực thì vị trí của nước đó trong hệ thống thế giới càng cao và an ninh của quốc gia đó càng được đảm bảo.
Mặt khác các quốc gia cũng tìm cách cân bằng quyền lực với những quốc gia mạnh hơn nhằm giảm thiểu sự chênh lệch về quyền lực, đồng nghĩa với giảm thiểu các đe dọa về an ninh.
Theo các nhà tân hiện thực, chiến tranh giữa các quốc gia xảy ra bắt nguồn từ cuộc chạy đua nhằm nâng cao quyền lực tương đối của mỗi quốc gia so với các quốc gia khác trong hệ thống chứ không phải do những khiếm khuyết trong bản chất con người như những lập luận của chủ nghĩa hiện thực cổ điển. Do nhấn mạnh tác động của bản chất hệ thống quốc tế đối với chính sách theo đuổi quyền lực của các quốc gia nên chủ nghĩa tân hiện thực còn được gọi là chủ nghĩa hiện thực cấu trúc.
Trong chủ nghĩa tân hiện thực, câu hỏi về giới hạn mục tiêu theo đuổi quyền lực được trả lời khác nhau. Phái “hiện thực phòng thủ” (defensive realism) lập luận rằng các quốc gia dù theo đuổi quyền lực nhưng chỉ ở mức độ tối thiểu, nhằm đảm bảo nhu cầu tồn tại. Nói cách khác, quyền lực chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích cuối cùng của các quốc gia. Hơn nữa, việc có quá nhiều quyền lực sẽ gây ra phản ứng phụ là việc các quốc gia đối thủ sẽ nỗ lực cân bằng quyền lựcthông qua chạy đua vũ trang hay thiết lập hoặc gia nhập các liên minh quân sự đối địch, khiến cho an ninh của quốc gia có quyền lực gia tăng quá nhiều cũng bị đe dọa.
Trong khi đó, trường phái “hiện thực tấn công” (offensive realism)cho rằng quyền lực không có giới hạn và các quốc gia cần đạt được càng nhiều quyền lực càng tốt nhằm đảm bảo an ninh và chiếm thế áp đảo so với các quốc gia khác trong hệ thống. John Mearsheimer là đại diện nổi tiếng nhất của trường phái này.
Theo Mearsheimer, quốc gia chỉ có thể đảm bảo an ninh và lợi ích một cách hiệu quả nhất nếu trở thành nước mạnh nhất trong hệ thống quốc tế hay khu vực. Ông sử dụng khái niệm “bá quyền khu vực” để diễn tả lập luận này. Theo cách nhìn trên, thì với sức mạnh đang lên, không một quốc gia náo chấp nhận làm một cường quốc nguyên trạng (status quo power) mà sẽ cố gắng thay đổi trật tự quốc tế hiện hữu để trở thành bá quyền trong khu vực. Quan điểm này khiến Mearsheimer thành một lý thuyết gia đại diện cho trường phái bi quan về sự trỗi dậy của các cường quốc, đặc biệt là với trường hợp sự trỗi dậy của Trung Quốc.
5. Chủ nghĩa hiện thực mới
Chủ nghĩa tân hiện thực không chú ý nhiều đến khía cạnh chủ nghĩa cá nhân của đời sống xã hội. Mặt khác, những người theo chủ nghĩa tân hiện thực cho rằng mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế có thể được giải quyết và giải thích nhiều hơn bằng tình trạng vô chính phủ. Đây là một trong những điểm khác biệt chính giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tân hiện thực. Khi nói đến chính trị của chủ nghĩa tân hiện thực, những gì chúng ta có thể thấy là chính trị của chủ nghĩa tân hiện thực không phải là một lĩnh vực tự trị. Người theo chủ nghĩa tân hiện thực không tin vào việc xác định kinh tế và văn hóa. Chủ nghĩa tân hiện thực có đặc điểm là hoàn toàn vô chính phủ. Nó không có thứ bậc, không giống như chủ nghĩa hiện thực. Chủ nghĩa tân hiện thực có một cách tiếp cận khác để giải thích bản chất của xung đột trong quan hệ quốc tế. Nó cho rằng xung đột giữa các bang bắt nguồn từ việc không có cơ quan trung ương. Khi nói đến việc sử dụng các chiến lược, mặc dù người theo chủ nghĩa tân hiện thực tin tưởng vào việc xác định các chiến lược để tiếp cận xung đột trong quan hệ quốc tế, nhưng cách tiếp cận này lại nghiêng về an ninh hơn.
(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).