Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy giải thích và làm rõ về cấu trúc của Bộ luật Hình sự năm 2015; tại sao Bộ luật này lại ra đời và có gì khác hai Bộ luật trước không?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Khái quát về sự hình thành, điểm đặc biệc của Bộ luật Hình sự năm 2015

Vào ngày 27/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015 (và dự kiến sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016). Tuy nhiên, như đã phân tích ở các phần trước, do nhận thức khoa học vẫn còn chưa đầy đủ và toàn diện đối với những vấn đề lý luận về kỹ thuật lập pháp trong lập pháp hình sự, đặc biệt là do vẫn còn thiếu kinh nghiệm chuyên môn trong công tác thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự của một số cán bộ trong Tổ biên tập Bộ luật Hình sự năm 2015 thiếu kinh nghiệm thực tiễn đối với việc áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan bảo vệ pháp luật (như điều tra, kiểm sát) và Tòa án (xét xử) nên đã dẫn đến hệ quả tất yếu là Bộ luật Hình sự thứ ba của đất nước có nhiều sai sót về mặt kỹ thuật lập pháp.

Nếu so sánh Bộ luật Hình sự năm 1985 với Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành thì có thể nhận thấy Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có một số điểm rất “hy hữu” như sau:

- Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa mới được thông qua ngày 27/11/2015 (mà lẽ ra phải có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016) nhưng chỉ 07 tháng sau khi bị phát hiện là còn nhiều thiếu sót về kỹ thuật lập pháp nên Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bị buộc phải lùi hiệu lực thi hành lại thêm 18 tháng nữa (cho đến ngày 01/01/2018) theo Nghị quyết số 144/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội.

 

2. Quan điểm thiếu sót kỹ thuật lập pháp nên Bộ luật Hình sự năm 2015 dẫn đến Bộ luật lùi hiệu lực

Khi phân tích vấn đề tại mục 1 trong dư luận xã hội (chưa cần bàn sâu đến góc độ chuyên môn) thì cho thấy nó đã được phân tích trên báo chí như sau:

a. Theo tác giả Lê Kiên (Báo Tuổi trẻ ngày 28/6/2016) thì “ủy ban Tư pháp của Quốc hội đã tiến hành rà soát tổng thể Bộ luật. Kết quả cho thấy có hơn 90 nội dung cần sửa đổi”., và qua sự cố Bộ luật Hình sự năm 2015 “Quốc hội cần rút ra bài học, làm rõ trách nhiệm và chấm dứt cách làm luật “chạy theo thành tích” và nếu muốn biết “Ai phải chịu trách nhiệm” thì nguyên Bộ trưỏng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường đã có ý kiến về thời gian làm Bộ luật Hình sự năm 2015 là: “một bộ luật lớn như vậy mà làm cập rập quá, cá nhân tôi cũng từng đề nghị có thêm thòi gian nhưng không được chấp nhận” và tại sao “từ khi có báo cáo kết quả lấy ý kiến nhân dân đến khi Quốc hội thông qua chỉ có khoảng một tháng rưỡi”?

b. Còn theo tác giả TS (Báo Thanh niên ngày 01/7/2016) thì: tại sao “khi một bộ luật quan trọng hàng đầu của đất nước có quá nhiều lỗi nhưng vẫn được thông qua” và ông Đỗ Mạnh Hùng (Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) đã nói: “tới đây sẽ tiếp tục làm rõ hơn trách nhiệm trực tiếp, trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân có liên quan, nhất là cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra, sau đó sẽ có xử lý cần thiết”.

c. Có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến hậu quả Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 bị lùi thời hạn thi hành (theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 đã nêu trên của Quốc hội) mà nếu phân tích dư luận trong giới luật gia thời gian qua (kể từ sau ngày 01/7/2016) đến nay mà chúng ta có thể đọc và tìm hiểu trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tại các cuộc hội thảo khoa học... song theo quan điểm của tác giả nếu nói ngắn gọn lại thì chỉ có duy nhất một nguyên nhân chủ yếu để cho Bộ luật Hình sự năm 2015 phải bị hoãn việc thi hành lại để sửa đổi, bổ sung lại là vì Bộ luật Hình sự năm 2015 có quá nhiều lỗi về kỹ thuật lập pháp vì về cơ bản công việc của đa số những người có trách nhiệm với Bộ luật Hình sự năm 2015 (những người làm công tác “soạn thảo”, “biên tập” Bộ luật Hình sự... thực chất rất thiếu và yếu kinh nghiệm thực tiễn).

Như vậy, dưới đây sẽ lần lượt đưa ra sự phân tích khoa học để nhận thấy những nét chủ yếu và quan trọng hơn cả của hệ thống pháp luật hình sự thực định trên hai bình diện: 1) Nội hàm (tức các đặc điểm cơ bản) và, 2) Kỹ thuật lập pháp của các quy phạm Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Mặt khác, vì kể từ sau pháp điển hóa lần thứ tư (năm 2015) trở đi trong hệ thống pháp luật hình sự thực định Việt Nam, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã ghi nhận hai chủ thể của trách nhiệm hình sự là: 1) Cá nhân phạm tội và, 2) Pháp nhân thương mại tuy không trực tiếp thực hiện tội phạm như cá nhân được (như cầm súng bắn chết người, cầm dao đâm bị thương người khác hay cầm vô lăng lái xe đổ chất thải xuống sông gây ô nhiễm nguồn nưóc, v.v.) nhưng vì có liên đới trong việc để cho cá nhân với đầy đủ bốn điều kiện được ghi nhận tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 phạm tội, nên pháp nhân thương mại cũng phải là chủ thế của trách nhiệm hình sự (mặc dù không phải là chủ thể của tội phạm (như cá nhân) vì có liên đổi trong việc phạm tội. Tuy nhiên, để cho ngắn gọn và dễ hiểu nên chúng ta thống nhất gọi ngắn gọn thành phạm trù đơn giản với cụm từ là: “người đại diện cho pháp nhân thương mại” phạm tội

 

3. Cấu trúc về bố cục của phần "Những quy định chung" Bộ luật Hình sự năm 2015

Về cách bố cục củaBộ luật Hình sự năm 2015, việc phân tích nội hàm (tức các đặc điểm cơ bản) của hệ thống và cơ cấu Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy, khác với hai lần pháp điển hóa thứ nhất và thứ hai với hai Bộ luật Hình sự (năm 1985 và năm 1999) (02 Bộ luật này có Lời nói đầu), nhưng đến Bộ luật Hình sự năm 2015 mặc dù không có Lòi nói đầu nhưng lại có ba phần lớn và được đặt tên gọi lần lượt theo số thứ tự của từng phần (thứ nhất, thứ hai, thứ ba). Sau đó, ba phần lớn này lại được phân chia ra thành 26 chương với tổng số 426 điều với cơ cấu như sau:

Về phần thứ nhất “Những quy định chung” có cơ cấu gồm 12 chương (I-XII) với 107 điều (các điều 1-107), trong số này có 10 chương vẫn được giữ nguyên tên gọi như trong Bộ luật Hình sự (năm 1999)), còn hai chương mới bổ sung là: a) Chương IV “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự” gồm có 07 điều (các điều 20-26), trong này có 04 điều cũ đã được chuyển từ Chương III “Tội phạm” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 sang (các điêu 20-23) và bổ sung thêm ba điều mới hoàn toàn (các điều 24-26); và b) Chương XI mối hoàn toàn “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” với 16 điều (các điều 74-89).

 

4. Cấu trúc về bố cục của phần “Các tội phạm” Bộ luật Hình sự năm 2015

Như đã phân tích, về cách bố cục của Bộ luật Hình sự năm 2015, việc phân tích nội hàm (tức các đặc điểm cơ bản) của hệ thống và cơ cấu Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy, khác với hai lần pháp điển hóa thứ nhất và thứ hai với hai Bộ luật Hình sự (năm 1985 và năm 1999) (02 Bộ luật này có Lời nói đầu), nhưng đến Bộ luật Hình sự năm 2015 mặc dù không có Lòi nói đầu nhưng lại có ba phần lớn và được đặt tên gọi lần lượt theo số thứ tự của từng phần (thứ nhất, thứ hai, thứ ba). Sau đó, ba phần lớn này lại được phân chia ra thành 26 chương với tổng số 426 điều.

Tại phần thứ hai “Các tội phạm” (tức Phần riêng) có cơ cấu gồm 14 chương (từ XIII đến XXVI) với 318 điều (các điều 108- 425) mà hệ thống các chương đề cập các nhóm tội phạm tương ứng cụ thể sẽ được đề cập trong Phần XI Chương III này.

Vì tại thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 được thông qua (27/11/2015) thì vẫn có Điều 292 “Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông” nhưng sau khi bị lùi thời hạn thi hành trong gần hai năm (2016-2017) để rà soát lại và sửa đổi, bổ sung thì Điều luật này đã bị bãi bỏ, đồng thòi được thay thế bằng Điều 217a “Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp” và chính vì vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn giữ nguyên tổng số tất cả là 426 điều như ban đầu.

 

5. Cấu trúc về bố cục của phần “Điều khoản thi hành” Bộ luật Hình sự năm 2015

Về phần thứ ba “Điều khoản thi hành”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam đã bổ sung thêm một cơ cấu hoàn toàn mới so với các bộ luật lớn (vì từ trước đến nay chỉ có trong văn bản pháp luật nhỏ như các luật hay pháp lệnh mối có điều khoản cuối cùng và do vậy mà ở đây không có chương mà chỉ quy định trong Điều 426 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Như vậy, trong tổng số 12 chương thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 (từ I đến XII) nhà làm luật đã bổ sung thêm hai chương mới hoàn toàn và độc lập là:

- Chương IV “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự” với 07 điều (các điều 20-26) trên cơ sở tách những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (mà chính xác hơn phải là loại trừ tính tội phạm của hành vi) hay nói một cách khác, tách những tình tiết không có liên quan gì đến tội phạm ra khỏi chương về tội phạm (Chương III “Tội phạm” trong Bộ luật Hình sự (năm 1999)) và;

- Chương XI mới hoàn toàn “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” với 16 điều (các điều 74-89).

Còn đối với các quy phạm trong hai chương (VIII và XII) đã gộp lại và sắp xếp tương ứng theo các mục (mà trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999 đã không làm như vậy), cụ thể là:

- Chương VIII “Quyết định hình phạt” có 10 điều (các điều 50-59) với hai mục là: a) Mục 1 “Quy định chung về quyết định hình phạt” (các điều 50-53); b) Mục 2 “Quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể” (các điều 54-59).

- Tên gọi của Chương XII đã có nhiều sự thay đổi, tuy nhiên, để tránh sự trùng lặp nên cụ thể sẽ được phân tích riêng và độc lập khi đề cập trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.

Trân trọng!