1. Mở đầu vấn đề
Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ. Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận.
Nếu khoa học là nghiên cứu nghĩa chung, thì triết học lại là nghiên cứu cái nghĩa chung hơn hết cả. Nếu khoa học là nghiên cứu cái hiện tượng bề ngoài, thì triết học là nghiên cứu cái chân tướng ở trong. Nếu khoa học lấy sự suy nghĩ mà thay vào sự tự nhiên, thì triết học là lấy sự suy nghĩ mà suy nghĩ cái suy nghĩ của khoa học. Nếu khoa học là muốn giải nghĩa sự vật, thì triết học lại muốn giải nghĩa cao hơn, mà giải nghĩa cả khoa học nữa. Chắc rằng thích nghĩa chữ triết học như thế cũng chưa được là rất mực đích sác, chưa được là cực điểm phân minh, như hai với hai là bốn vậy. Nhưng thiết tưởng cũng đã định được cái phạm vi của triết học đối với khoa học, khu biệt được phần nào là phần thuộc về triết học, phần nào là phần thuộc về khoa học, không sợ nhận nhầm; như thế thì cũng là tạm đủ vậy.
Với sự ra đời của các thuật ngữ "triết học" và "triết gia" được gắn với nhà tư tưởng Hy Lạp Pythagoras. Một "nhà triết học" được hiểu theo nghĩa tương phản với một "kẻ ngụy biện" (σοφιστής). Những "kẻ ngụy biện" hay "những người nghĩ mình thông thái" có một vị trí quan trọng trong Hy Lạp cổ điển, được coi như những nhà giáo, thường đi khắp nơi thuyết giảng về triết lý, nghệ thuật hùng biện và các bộ môn khác cho những người có tiền, trong khi các "triết gia" là "những người yêu thích sự thông thái" và do đó không sử dụng sự thông thái của mình với mục đích chính là kiếm tiền.
2. Phân tích chủ nghĩa hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực là trào lưu nghệ thuật lấy hiện thực xã hội và những vấn đề có thực của con người làm đối tượng sáng tác. Chủ nghĩa hiện thực hướng tới cung cấp cho công chúng nghệ thuật những bức tranh chân thực, sống động, quen thuộc về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh.
Trong văn học, những tác phẩm có tính hiện thực và giá trị hiện thực tồn tại rất lâu trước khi chủ nghĩa này xuất hiện. Thế nhưng chủ nghĩa hiện thực, với tư cách một trào lưu, một phương pháp, chỉ xuất hiện vào thế kỉ 19 ở các quốc gia Pháp, Ý, Anh, Nga, sau đó ảnh hưởng tới các nước khác. Từ "réalisme" xuất hiện lần đầu tiên ở Pháp vào năm 1826 trên tạp chí Mercure de France, do nhà phê bình Champfleury sử dụng. Với hội họa, Pháp cũng chính là nơi ra đời của hội họa hiện thực. Trong suốt thế kỷ 18 và 19, Pháp là trung tâm về nhiều mặt: xã hội, chính trị, văn hóa... Dù nhiều xu hướng hội họa liên tiếp ra đời, chủ đề chính vẫn là tôn giáo, lịch sử, thần thoại với lối vẽ kinh điển. Gustave Courbet đã xuất hiện và tổ chức cuộc triển lãm mang tên Chủ nghĩa hiện thực của Gustave Courbet 1819 - 1877 vào năm 1855 tại Paris. Ông chính là người đại diện cho hội họa hiện thực. Nghệ thuật của Courbet đã hưởng đến các họa sĩ lớp sau và họ đã đi những bước đầu tiên để lập nên nền tảng cho hội họa hiện đại sau này.
Chủ nghĩa hiện thực, bên cạnh chủ nghĩa tự do, là một trong hai trường phái lí thuyết quan trọng nhất trong quan hệ quốc tế, được hình thành từ lâu đời và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tư duy hoạch định chính sách đối ngoại của các quốc gia.
Mặc dù có nhiều phân nhánh khác nhau, nhìn chung các nhà hiện thực chia sẻ các giả định chủ yếu sau:
Chủ thể chính trong hệ thống quốc tế là các quốc gia - dân tộc có chủ quyền trong khi các chủ thể khác như các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các công ty đa quốc gia, các nhóm hay các cá nhân không có vai trò đáng kể. Về bản chất, hệ thống quan hệ quốc tế là một hệ thống vô chính phủ, không tồn tại một quyền lực đứng trên các quốc gia nhằm điều chỉnh và quản lí mối quan hệ giữa họ với nhau.
Chính vì vậy mục tiêu của các quốc gia là tìm cách nâng cao quyền lực nhằm tự đảm bảo an ninh và sự tồn tại của mình trong hệ thống thông qua việc cố gắng giành được càng nhiều nguồn lực càng tốt.
Điều này dẫn tới việc các quốc gia luôn ở trong thế cạnh tranh và đối đầu lẫn nhau (trong nhiều trường hợp dưới hình thức chiến tranh, xung đột vũ trang) nhằm theo đuổi lợi ích quốc gia dưới dạng quyền lực, khiến cho các quốc gia không thể duy trì việc hợp tác một cách lâu dài. Có thể thấy đa phần các giả định này đều trái ngược với các giả định của chủ nghĩa tự do.
Quyền lực trong góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực không chỉ là phương tiện để các quốc gia đạt đến các mục tiêu của mình, mà tự nó cũng chính là một mục tiêu, thông qua hai giả định.
- Quyền lực là động lực cho các chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Câu hỏi tại sao quốc gia lựa chọn chính sách A hay chính sách B, chỉ có thể được giải thích bằng lăng kính quyền lực. Morgenthaus trả lời bằng một câu được xem như nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực: "Chính trị thế giới, giống như tất cả hình thái chính trị khác, là cuộc chiến để đạt quyền lực. Mục đích cuối cùng của chính trị quốc tế, dù nằm ở đâu cũng là quyền lực".
- Quyền lực được định nghĩa là khả năng ảnh hưởng và thay đổi hành vi của các quốc gia hay tổ chức khác theo lợi ích của mình. Nói một cách khác, cuộc chiến giành quyền lực có thể hiểu là cuộc chiến nhằm giành khả năng gây ảnh hưởng đối với hành vi và suy nghĩ của các quốc gia khác. Theo Morgenthaus, đây là một đặc tính bất biến của chính trị quốc tế. Trong một thế giới vô chính phủ, mục tiêu của mỗi quốc gia là trang bị cho mình càng nhiều quyền lực càng tốt để đảm bảo an ninh và sinh tồn. Tuy nhiên cuộc chạy đua tranh giành quyền lực dẫn tới việc các quốc gia đối mặt với một "thế lưỡng nan về an ninh".
Theo đó, khi một quốc gia càng tìm cách nâng cao quyền lực của mình thì càng làm cho các quốc gia khác bất an, buộc các quốc gia thường xuyên phải chạy đua nâng cao quyền lực của mình nhằm đảm bảo an ninh của mình không bị đe dọa.
Kể từ khi ra đời, chủ nghĩa hiện thực đã có các bước phát triển với nhiều bổ sung khác nhau. Hiện nay, chủ nghĩa hiện thực được chia làm hai phân nhánh chính, đó là chủ nghĩa hiện thực cổ điển (classical realism) và chủ nghĩa tân hiện thực (neo-realism), hay còn gọi là chủ nghĩa hiện thực cấu trúc (structural realism).
3. Phân tích chủ nghĩa duy danh
Chủ nghĩa duy danh là một quan điểm siêu hình trong triết học theo đó những thuật ngữ phổ quát và trừu tượng và các tiên đề (hay mệnh đề vị ngữ) tồn tại, trong khi cái phổ quát hay những vật trừu tường, thì không.
Theo đó, có ít nhất hai phiên bản chính của Chủ nghĩa duy danh. Một phiên bản từ chối sự tồn tại của cái phổ quát-tức những thứ có thể tạo mẫu cho những thứ cụ thể (ví dụ, tính người, sức mạnh). Một phiên bản khác phủ nhận một cách cụ thể sự tồn tại của những vật trừu tượng-những vật không tồn tại trong không thời gian. Chủ nghĩa duy danh có thể tìm thấy nguồn gốc trong triết học Platon, đối lập với Chủ nghĩa duy thực-quan niệm rằng tồn tại cái phổ quát bên trên và bên ngoài cái cụ thể.
4. Phân tích chủ nghĩa tân hiện thực
Về chủ nghĩa tân hiện thực (neo-realism) nhấn mạnh cấp độ phân tích hệ thống quốc tế khi phân tích nguyên nhân các quốc gia tìm cách theo đuổi quyền lực. Theo đó, các nhà tân hiện thực cho rằng trong một hệ thống vô chính phủ, sự phân bổ quyền lực tương đối giữa các quốc gia trong hệ thống chính là yếu tố then chốt đối với an ninh của mỗi quốc gia. Vì thế các quốc gia tìm cách nâng cao quyền lực, vì càng có nhiều quyền lực thì vị trí của nước đó trong hệ thống thế giới càng cao và an ninh của quốc gia đó càng được đảm bảo.
Mặt khác các quốc gia cũng tìm cách cân bằng quyền lực với những quốc gia mạnh hơn nhằm giảm thiểu sự chênh lệch về quyền lực, đồng nghĩa với giảm thiểu các đe dọa về an ninh.
Theo các nhà tân hiện thực, chiến tranh giữa các quốc gia xảy ra bắt nguồn từ cuộc chạy đua nhằm nâng cao quyền lực tương đối của mỗi quốc gia so với các quốc gia khác trong hệ thống chứ không phải do những khiếm khuyết trong bản chất con người như những lập luận của chủ nghĩa hiện thực cổ điển. Do nhấn mạnh tác động của bản chất hệ thống quốc tế đối với chính sách theo đuổi quyền lực của các quốc gia nên chủ nghĩa tân hiện thực còn được gọi là chủ nghĩa hiện thực cấu trúc.
Trong chủ nghĩa tân hiện thực, câu hỏi về giới hạn mục tiêu theo đuổi quyền lực được trả lời khác nhau. Phái “hiện thực phòng thủ” (defensive realism) lập luận rằng các quốc gia dù theo đuổi quyền lực nhưng chỉ ở mức độ tối thiểu, nhằm đảm bảo nhu cầu tồn tại. Nói cách khác, quyền lực chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích cuối cùng của các quốc gia. Hơn nữa, việc có quá nhiều quyền lực sẽ gây ra phản ứng phụ là việc các quốc gia đối thủ sẽ nỗ lực cân bằng quyền lựcthông qua chạy đua vũ trang hay thiết lập hoặc gia nhập các liên minh quân sự đối địch, khiến cho an ninh của quốc gia có quyền lực gia tăng quá nhiều cũng bị đe dọa.
Trong khi đó, trường phái “hiện thực tấn công” (offensive realism)cho rằng quyền lực không có giới hạn và các quốc gia cần đạt được càng nhiều quyền lực càng tốt nhằm đảm bảo an ninh và chiếm thế áp đảo so với các quốc gia khác trong hệ thống. John Mearsheimer là đại diện nổi tiếng nhất của trường phái này.
Theo Mearsheimer, quốc gia chỉ có thể đảm bảo an ninh và lợi ích một cách hiệu quả nhất nếu trở thành nước mạnh nhất trong hệ thống quốc tế hay khu vực. Ông sử dụng khái niệm “bá quyền khu vực” để diễn tả lập luận này. Theo cách nhìn trên, thì với sức mạnh đang lên, không một quốc gia náo chấp nhận làm một cường quốc nguyên trạng (status quo power) mà sẽ cố gắng thay đổi trật tự quốc tế hiện hữu để trở thành bá quyền trong khu vực. Quan điểm này khiến Mearsheimer thành một lý thuyết gia đại diện cho trường phái bi quan về sự trỗi dậy của các cường quốc, đặc biệt là với trường hợp sự trỗi dậy của Trung Quốc.
5. Đánh giá chủ nghĩa tân hiện thực
Ta thấy chủ nghĩa tân hiện thực đã mở ra một góc nhìn mới trong khung lý thuyết phân tích chính trị quốc tế và đã trở thành một trong những lý thuyết được bàn luận, bổ sung, mở rộng và phê bình sôi nổi nhất trong hơn ba thập niên qua.
- Với một số học giả cho rằng cân bằng quyền lực không phải là chính sách thường gặp trong trường hợp các nước đối đầu với một quyền lực đang lên. Stephen Walt lập luận rằng chính sách cân bằng thật ra bắt nguồn từ một nguyên nhân khác, đó là sự sợ hãi. Các quốc gia có xu hướng cân bằng lại những nước mà họ cảm thấy gây nên mối đe dọa với mình, hơn là cân bằng lại một nước sở hữu sức mạnh vượt trội hơn. Lập này còn được biết tới với tên gọi thuyết cân bằng mối đe dọa (balance of threats), tương phản với thuyết cân bằng quyền lực.
- Đối với một số học giả như Randall Schweller, thì cân bằng quyền lực không phải là lựa chọn thường gặp nhất. Đối đầu với một nước lớn, các nước nhỏ thường theo đuổi chính sách phù thịnh (bandwagon) để được hưởng lợi ích và đảm bảo không bị nước lớn tấn công.
=> Mặc dù có một lịch sử lâu đời với mức độ ảnh hưởng sâu rộng trong chính trị quốc tế, ngày ngay không ít học giả cho rằng chủ nghĩa hiện thực không còn là một lý thuyết phù hợp nhằm giải thích các hiện tượng chính trị quốc tế khi mà quá trình toàn cầu hóa đang làm thế giới nhỏ lại, tình trạng phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng. Theo đó, các quốc gia có xu hướng tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực và số lượng các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia ngày càng giảm xuống. Mặc dù vậy, nhiều người cho rằng cần chờ thêm nhiều thời gian nữa trước khi có thể đi đến kết luận rằng chủ nghĩa hiện thực không còn phù hợp đối với việc giải thích chính trị quốc tế. Một mặt trong lịch sử chủ nghĩa hiện thực đã từng thể hiện khả năng tự điều chỉnh mạnh mẽđể duy trì sức sống của mình với ví dụ điển hình là sự xuất hiện của chủ nghĩa tân hiện thực. Mặt khác, bên cạnh xu hướng hợp tác, các quốc gia ngày nay vẫn tiếp tục duy trì chính sách chính trị quyền lực, thể hiện ở việc không ngừng nâng cao sức mạnh toàn diện của mình, mà một ví dụ gần đây là trường hợp trỗi dậy của Trung Quốc đi kèm với các tác động của nó đối với tình hình chính trị an ninh khu vực và toàn cầu.
(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).