1. Khái quát chung

Mặc dù ngay sau khi giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam đã chăm lo tới công tác xây dựng pháp luật, trong đó có pháp luật về lao động và thiết lập cơ quan lao động nhằm xúc tiến mối quan hệ lao động trong toàn quốc (theo sắc lệnh số 226/SL ngày 28/11/1946 về việc tổ chức Bộ lao động; sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 về giao dịch làm công) nhưng quan hệ lao động giữa công nhân, viên chức nhà nước với các cơ quan, xí nghiệp nhà nước không phải là quan hệ lao động của kinh tế thị trường mà chỉ là sản phẩm của nền kinh tế theo kế hoạch hoá tập trung.

Do Nhà nước chịu trách nhiệm giải quyết công ăn việc làm với tư cách là người tuyển dụng lao động, còn NLĐ là người thực hiện bổn phận phục vụ nhà nước, quan hệ giữa người đứng đầu đơn vị, doanh nghiệp với công nhân, lao động không có tính chất “làm thuê”, không phải là quan hệ “chủ - thợ”. NLĐ là người phục vụ Nhà nước, do đó cố gắng làm việc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các cơ quan xí nghiệp nhà nước có trách nhiệm đảm bảo tổ chức quá trình sản xuất xã hội và chăm lo đời sống của công nhân, viên chức, những người được coi là vốn quý của quốc gia. Các tổ chức công đoàn được thành lập từ cơ sở trở lên đều thống nhất về quan điểm và mục đích hành động, đó là vì sự nghiệp xây dựng đất nước và góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam. Lời nói đầu của Luật Công đoàn năm 1957 định rõ vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức công đoàn chỉ là tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân phát triển và củng cố tổ chức, phát huỵ tác dụng tích cực của công đoàn trong công cuộc xây dựng chính quyền, kiến thiết kinh tế, phát triển văn hoá, nhằm củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Theo đó, việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ đã không được đặt ra, vì không cần thiết. Trong bối cảnh các vấn đề của quan hệ lao động như tiền lương và các điều kiện lao động đều do Nhà nước ấn định, công đoàn cũng như lãnh đạo doanh nghiệp không cần phải đấu tranh hay nhượng bộ để quyết định các điều kiện lao động, cơ chế ba bên vì thế không tồn tại và phát triển.

Pháp luật về cơ chế ba bên chỉ bắt đầu xuất hiện khi Việt Nam bước vào thiết lập thị trường lao động ở Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật chủ yếu đề cập việc “tham khảo” ý kiến hơn là xác lập nguyên tắc để các vấn đề lao động được quyết định bằng cơ chế ba bên. Việc quyết định bằng cơ chế ba bên được ghi nhận rất hạn chế và rất ít được sử dụng. Đó là việc quy định về cơ cấu và quyền lực của hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh, trong thành phần của hội đồng trọng tài có đầy đủ ba bên trong quan hệ lao động là: đại diện sở lao động - thương binh và xã hội, liên đoàn lao động cấp tỉnh, đại diện NSDLĐ. Tuy nhiên, rất hiếm khi hội đồng trọng tài thụ lí và giải quyết các vụ việc. Phán quyết của hội đồng trọng tài không có giá trị chung thẩm và vì thế các đương sự có quỵền khởi kiện ra toà án tư pháp sau khi đã nhận quyết định của hội đồng trọng tài về vụ tranh chấp lao động (xem Điều 174 BLLĐ năm 1994). * Điều 3 Quyết định số 68/2007/QĐ-TTg.

Một vài ý tưởng về tham vấn các bên xuất hiện tại Nghị định số 145/2004/NĐ-CP nhưng việc tham vấn cũng chỉ được thực hiện ở tầm vĩ mô và theo hình thức được Nghị định quy định là: tham gia ý kiến bằng văn bản và tham gia ý kiến qua hội nghị được tổ chức giữa các bên.

Ngày 17/5/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 68/2007/QĐ-TTg về việc thành lập Uỷ ban Quan hệ lao động với chức năng tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách, giải pháp xây dựng quan hệ lao động lành mạnh; xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan, tổ chức liên quan trong việc phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động, đình công. Đây là văn bản pháp luật đánh dấu bước ngoặt hình thành thiết chế ba bên thực sự đầu tiên ở nước ta trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.

Ngày 03/7/2013 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1055/QĐ-Ttg thành lập Hội đồng Tiền lương quốc gia đánh dấu bước phát triển tiếp theo của thiết chế ba bên ở Việt Nam.

Bộ máy của ủy ban Quan hệ lao động gồm 1 chủ tịch (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), 3 phó chủ tịch (1 đại diện từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 1 từ Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và 1 từ VCCI). Các thành viên khác là đại diện từ Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, VCCI, các hiệp hội các công ty khác, như Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA), Hiệp hội các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) theo Điều 1 Quyết định số 49/2013/QĐ-TTg. Tổ chức của Hội đồng Tiền lương quốc gia cũng tương tự, bao gồm đại diện chủ chốt của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, VCCI, VCA và đại diện khác đến từ các cơ quan khác nhau của bên sử dụng lao động.

Hiện tại các cơ quan trên vẫn đang trong quá trình hoàn thiện về tổ chức, đặc biệt là Hội đồng Tiền lương là một cơ quan mới được thành lập. Qua các báo cáo thường niên của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy ủy ban Quan hệ lao động đã có những đóng góp trong quá trình xây dựng BLLĐ năm 2012, Luật Công đoàn năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, ủy ban cũng hoạt động tích cực trong việc thông tin về hai văn kiện này tới NLĐ và NSDLĐ nhằm đầy mạnh đối thoại nơi làm việc và thương lượng tập thể. Cũng đã có một số nỗ lực nhằm thiết lập cơ quan ba bên ở cấp tỉnh nhưng chưa thành công do thiếu đối tác đại diện cho bên sử dụng lao động.

Bên cạnh đó hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp lao động và đình công, các hội nghị, hội thảo về quan hệ lao động ở nước ta hiện nay cũng gồm đại diện ba bên để thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp lao động, đình công cũng như để thực hiện các hoạt động tham vấn.

2. Cơ chế ba bên là gì?

Cơ chế ba bên là một cơ chế có hệ thống chủ thể đặc biệt, gồm người lao động – nhà nước – người sử dụng lao động. Hệ thống chủ thể này phản ánh một mối quan hệ xã hội rất phức tạp, trong đó, mặc dù có mối quan tâm chung là quan hệ lao động nhưng mỗi chủ thể đều có một loại lợi ích riêng.

3. Đặc trưng của cơ chế ba bên

Mặc dù cơ chế ba bên có thể hình thành ở những cấp độ khác nhau nhưng chức năng duy trì, phát triển, bảo đảm hài hòa hóa mối quan hệ lao động của nó không hề thay đổi. Đó cũng chính là điều khẳng định tính tích cực của sự tham gia của các chủ thể nói trên vào cơ chế ba bên, một cơ chế xã hội đặc biệt trong lĩnh vực lao động.
Về nhiệm vụ, như đã đề cập, cơ chế ba bên được hình thành nhằm đáp ứng những yêu cầu có tính bức xúc của quá trình lao động xã hội. Các nhiệm vụ của cơ chế ba bên thường được quy định trong các văn bản pháp luật của nhà nước. Tuỳ theo loại hình thể hiện mà các cơ cấu của cơ chế ba bên có nhiệm vụ tương thích. Chẳng hạn: Nhiệm vụ của hội đồng lương quốc gia chắc chắn sẽ có nhiệm vụ khác so với hội đồng lương cấp vùng hoặc cấp tỉnh. Và tương tự như vậy, một hội đồng ba bên về “hoà bình công nghiệp” (Industrial Peace) sẽ có nhiệm vụ đặc thù khi so sánh với một cơ cấu thực thi chức năng tài phán trong lao động.
Tuy nhiên, điểm chung của cơ chế ba bên là ở chỗ nó đều có khả năng giải quyết những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài trong lĩnh vực lao động, như: 1) Định hướng chính sách lao động; 2) cùng thảo luận để thống nhất quan điểm xây dựng pháp luật về việc làm, tiền lương, các điều kiện lao động; 3) tổ chức giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực lao động, đặc biệt là các tranh chấp lao động và đình công…

4. Vai trò của cơ chế ba bên

Cơ chế ba bên góp phần vào quá trình toàn cầu hóa mối quan hệ lao động và hợp tác quốc tế về lao động: Việc quy định vào pháp luật, áp dụng cơ chế ba bên trong thực tiễn lao động là một trong những tiêu chuẩn về sự tuân thủ pháp luật lao động quốc tế, giúp cải thiện vị trí, vai trò, hình ảnh của Việt Nam trong tổ chức lao động quốc tế (ILO).
Cơ chế ba bên góp phần vào việc kiềm chế, giải quyết các xung đột trong lao động: Một trong những con đường tốt nhất để kiềm chế xung đột, kiềm chế hậu quả bất lợi, đó là tăng cường sự đối thoại xã hội thông qua cơ chế ba bên, sử dụng cơ chế này để giải quyết các xung đột trong lao động. Sự chia sẻ giữa các bên trong quan hệ lao động và nhà nước đối với những khó khăn, những bế tắc trong quá trình duy trì vận động của quan hệ lao động, trong quá trình giải quyết những mâu thuẫn về quyền lợi ở những cấp độ khác nhau sẽ tạo nên cơ hội tốt cho việc làm trong lành các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ giai cấp giữa chủ và thợ nhằm tạo ra sự ổn định cho trình phát triển xã hội.
Cơ chế ba bên góp phần tăng cường kh6.ả năng đối thoại xã hội (social dialogues) trong lao động: Đối thoại xã hội là một trong những vẩn đề có tính ưu tiên hàng đầu mà Tổ chức lao động quốc tế theo đuổi. Nó được thê hiện qua việc Tổ chức lao động quốc tế đã cho ra đời các quy phạm quan trọng về cơ chế ba bên. Đó cũng là vấn đề mà Tổ chức lao động quốc tế luôn luôn khuyến cáo các chính phủ của các nước thành viên cần chú trọng trong quá trình xây dựng, thực hiện các chính sách lao động xã hội.
Cơ chế ba bên góp phần tăng cường hiệu quả của quản lí lao động: Nhà nước luôn luôn quan tâm tới sự an toàn của các quan hệ xã hội, đặc biệt là các quan hệ lao động. Theo quan điểm chung, trong nền kinh tế thị trường, vai trò của nhà nước ngày một tăng lên, nhưng sự can thiệp trực tiếp của nhà nước thì ngày càng có xu hướng giảm đi.

5. Về phương diện xã hội

Cơ chế ba bên được nghiên cứu dưới góc độ quyền con người. Các nhà xã hội học cho rằng cơ chế ba bên là biểu hiện quan trọng của quyền con người trong xã hội bởi nó đảm bảo cho sự dân chủ, công bằng và văn minh trong việc thực thi các quyền con người do Hiến pháp quy định, không chỉ trong lĩnh vực lao động. Sự vận hành của cơ chế ba bên giúp người dân có thể nhận được sự bảo đảm của nhà nước và toàn xã hội về cơ hội việc làm và quyền lao động để kiếm sống, quyền tạo ra và có thu nhập bằng sức lao động của chính mình. Bằng cách xác lập và vận hành cơ chế ba bên, các chủ thể của xã hội, ở những vị trí của mình, có thể bày tỏ được nguyện vọng, quan điểm… xung quanh việc tham gia tổ chức các hoạt động trong lao động và tổ chức đời sống. Quyền lao động và được lao động trong điều kiện tốt nhất, an toàn nhất có thể, quyền được hưởng thù lao tương xứng và không bị bóc lột sức lao động, quyền tham gia vào việc hưởng phúc lợi xã hội… đều có thể được thực hiện. Tuy nhiên, đối với quan hệ lao động thì việc thực hiện những vấn đề nói trên thông qua cơ chế ba bên lại là phương pháp có tính xã hội hoá cao, có tính dân chủ rõ ràng và hiệu quả hơn các phương pháp khác.

6. Dưới góc độ quản lí

Cơ chế ba bên là một trong những phương thức quản lí lao động, trong đó, nhà nước sử dụng những kết qua của sự họp tác ba bên để xây dựng, thực thi, điều chỉnh chính sách và pháp luật về lao động. Điều này không chỉ tồn tại trong hê thống quan điểm mà chính là một vấn đề của thực tiễn đời sống lao động. Việc sử dụng cơ chế ba bên giúp nhà nước có thêm phương thức mới, ngoài những phương thức quản lí thông thường, để thực hiện chức năng quản lí xã hội nói chung và quản lí lao động nói riêng.

7. Dưới góc độ pháp lí

Cơ chế ba bên là một định chế pháp lí quan trọng của luật lao động. Định chế này bao gồm những quy định của pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận về cơ chế ba bên và việc thực thi các quy định đó trong thực tiễn đời sống xã hội, thông qua các biện pháp khác nhau, thông qua các hành vi của các chủ thể khác nhau. Nội dung của định chế pháp lí tập trung vào việc điều chỉnh mối quan hệ ba bên: người lao động – nhà nước – người sử dụng lao động.
Ngày nay, cơ chế ba bên còn được tiếp cận dưới những góc độ khác tuỳ theo cách nhìn nhận và dụng ý của nhà nghiên cứu. Những cách tiếp cận khác nhau đó giúp cho chúng ta có thê hiểụ được cơ chế ba bên một cách sâu sắc hơn để khai thác những ích của nó trong thị trường lao động, quan hệ lao động ngày sôi động và phức tạp hiện nay.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực lao động, công đoàn, cơ chế ba bên trong quan hệ lao động... Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê