1. Mở đầu vấn đề

Chủ nghĩa kinh nghiệm hay chủ nghĩa duy nghiệm (tiếng Anh: Empiricism) là một khuynh hướng lý thuyết về tri thức triết học với đặc điểm nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm. Trải nghiệm có thể được hiểu là bao gồm tất cả các nội dung của ý thức hoặc nó có thể được giới hạn trong dữ liệu của các giác quan mà thôi.

Chủ nghĩa kinh nghiệm nhấn mạnh đến các khía cạnh của tri thức khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải nghiệm, đặc biệt khi được tạo ra qua các sắp đặt thử nghiệm có chủ ý. Một yêu cầu căn bản của phương pháp khoa học là tất cả các giả thuyết và lý thuyết đều phải được kiểm nghiệm bằng các quan sát về thế giới tự nhiên thay vì chỉ dựa trên lập luận tiên nghiệm, trực giác, hay mặc khải. Do đó, về bản chất, khoa học được xem là theo lối kinh nghiệm một cách có phương pháp.

 

2. Khái quát về chủ nghĩa kinh nghiệm trong triết học

Trong triết học, chủ nghĩa kinh nghiệm là một lý thuyết nói rằng kiến thức chỉ đến hoặc chủ yếu từ kinh nghiệm cảm giác. Đó là một trong nhiều quan điểm về nhận thức luận, nghiên cứu kiến thức của con người, cùng với chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa hoài nghi. Chủ nghĩa kinh nghiệm nhấn mạnh vai trò của bằng chứng thực nghiệm trong việc hình thành ý tưởng, qua ý tưởng về ý tưởng hoặc truyền thống bẩm sinh. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm có thể lập luận rằng các truyền thống (hoặc phong tục) phát sinh do các mối quan hệ của kinh nghiệm cảm giác trước đó.

Chủ nghĩa kinh nghiệm trong triết học của khoa học nhấn mạnh bằng chứng, đặc biệt là được phát hiện trong các thí nghiệm. Đây là một phần cơ bản của phương pháp khoa học mà tất cả các giả thuyết và lý thuyết phải được kiểm tra chống lại các quan sát về thế giới tự nhiên thay vì chỉ dựa vào một lý luận, trực giác hoặc mặc khải tiên nghiệm .

Chủ nghĩa kinh nghiệm, thường được sử dụng bởi các nhà khoa học tự nhiên, nói rằng "kiến thức dựa trên kinh nghiệm" và "kiến thức là dự kiến và xác suất, có thể tiếp tục sửa đổi và làm sai lệch". Nghiên cứu thực nghiệm, bao gồm các thí nghiệm và các công cụ đo lường được xác nhận, hướng dẫn phương pháp khoa học.

Học thuyết đầu tiên về chủ nghĩa kinh nghiệm được phát biểu một cách tường minh bởi John Locke vào thế kỷ XVII. Locke cho rằng tâm thức là một tabula rasa (tấm bảng sạch) trước khi các trải nghiệm lưu dấu vết của mình lên đó. Chủ nghĩa kinh nghiệm như của Locke phủ nhận rằng con người có các ý niệm bẩm sinh hay cái gì đó nhận biết được mà không phải tham chiếu tới trải nghiệm.

Chủ nghĩa kinh nghiệm không cho rằng ta có được các tri thức kinh nghiệm một cách tự động. Thay vào đó, theo quan điểm của các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa, để cho một tri thức bất kỳ có thể được suy luận hoặc suy diễn một cách đúng đắn, tri thức đó phải bắt nguồn từ trải nghiệm giác quan của ta. Về mặt lịch sử, chủ nghĩa kinh nghiệm triết học thường được đặt đối lập với trường phái tư tưởng được gọi là "chủ nghĩa duy lý", trường phái này khẳng định rằng nhiều tri thức có thể quy cho lý tính một cách độc lập với các giác quan. Tuy nhiên, ngày nay, sự đối lập này được xem là một sự đơn giản hóa quá mức về các vấn đề có liên quan, vì các nhà duy lý lục địa quan trọng (Descartes, Spinoza và Leibniz) cũng đã ủng hộ các "phương pháp khoa học" theo lối kinh nghiệm vào thời của họ. Hơn nữa, về phần mình, Locke cho rằng có một số tri thức (chẳng hạn tri thức về sự tồn tại của Chúa trời) chỉ có thể đạt được bằng trực giác và lập luận mà thôi.

Một số triết gia quan trọng được cho là có quan hệ với chủ nghĩa kinh nghiệm bao gồm Aristotle, Thomas Aquinas, Francis Bacon, Thomas Hobbes, John Locke, George Berkeley, David Hume, và John Stuart Mill.

 

3. Phân tích hình thức sơ khởi của chủ nghĩa kinh nghiệm

Các hình thức sơ khởi của chủ nghĩa kinh nghiệm bao gồm các công trình nghiên cứu về nhận thức luận của một số nhà triết học, trong đó có: Aristotle, Thomas Aquinas và Roger Bacon.

- Có lẽ các nhà triết học kinh nghiệm đầu tiên của triết học phương Tây là các Sophist (Ngụy Biện Gia). Aristotle đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quy nạp dựa trên kinh nghiệm.

Sau khoảng một thế kỷ, phản ứng chống lại cách tiếp cận duy lý và hết sức suy đoán của Plato (427–347 TCN), trong những năm cuối đời, Aristotle (384–322 TCN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì các giác quan thu nhận được, nghĩa là nhấn mạnh vào các quan sát hậu nghiệm.

- Nhà triết học Aristotle dùng thuật ngữ triết học tự nhiên để gọi nhiệm vụ tìm hiểu thế giới tự nhiên, sử dụng cái mà sau này đã được biết với tên lập luận quy nạp (inductive reasoning) để đi đến các phạm trù và nguyên lý dựa trên dữ liệu giác quan. Cách tiếp cận này đã đối ngược sâu sắc với lý thuyết hình thức của Plato - lý thuyết phụ thuộc rất lớn vào các giả thuyết tiên nghiệm (xem chú thích trên). Trong các thời kỳ "giữa" và "sau" của mình, Aristotle ngày càng không đồng ý với các quan niệm của Plato và phát triển một sự kỳ vọng ngày càng chặt chẽ về các khẳng định tường minh bằng thực nghiệm cho tất cả các kết luận từ quy nạp.  Aristotle còn khẳng định nguyên lý cốt lõi của chủ nghĩa kinh nghiệm rằng tri thức của con người về thực tại được đặt nền móng bằng trải nghiệm từ các giác quan.

- Thế hệ sau Aristotle, cả các nhà triết học Khắc kỷ (Stoic) và Hưởng lạc (Epicurean) đều thiết lập các giải thích tường minh hơn theo kiểu kinh nghiệm về sự hình thành của các ý niệm và khái niệm. Đi trước Locke hàng nghìn năm, các nhà triết học khắc kỷ tuyên bố rằng tâm thức con người là một tấm bảng trắng trơn mà sau đó sẽ được xếp đầy các ý niệm từ các tri giác giác quan. Tuy nhiên, họ còn khẳng định rằng có một số "khái niệm chung" nhất định có sẵn trong tâm thức của tất cả mọi người một cách tiên nghiệm. Các nhà triết học theo thuyết hưởng lạc có một quan điểm hậu nghiệm kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa còn mạnh hơn nữa. Đối với họ, các khái niệm thần kinh là các hình ảnh ký ức hoặc các bản sao của các trải nghiệm giác quan trước đó, và các cảm giác luôn luôn là các bằng chứng tốt về các nguyên nhân của các cảm giác đó.

Trong các nhà triết học kinh viện, Thomas Aquinas thu nhận từ Aristotle tiên đề triết học nổi tiếng: "Không có gì trong trí tuệ mà nó không đến đầu tiên từ các giác quan". Aquinas lý luận rằng sự tồn tại của Chúa trời có thể được chứng minh bằng lập luận từ dữ liệu giác quan. Ông sử dụng một biến thể của khái niệm của Aristotle về "trí tuệ chủ động" (active intellect) mà ông giải nghĩa là khả năng trừu tượng hóa ý nghĩa phổ quát từ dữ liệu kinh nghiệm cụ thể.

 

4. Phân tích chủ nghĩa kinh nghiệm của Anh

Một quan điểm triết học coi nguồn gốc của tri thức và nhận thức của con người là kinh nghiệm. Xung đột với chủ nghĩa duy lý hay chủ nghĩa duy lý, đại diện của xung đột này là lý thuyết lục địa phương Tây so với chủ nghĩa kinh nghiệm của Anh trong thế kỷ 17 và 18.

Nhà triết học W. James đã mô tả cuộc xung đột này là một cuộc xung đột có tính chất ôn hòa giữa một người cứng rắn bị các nguyên tắc thúc đẩy và một người mềm lòng bị thúc đẩy bởi sự thật. Bản dịch tiếng Nhật về chủ nghĩa kinh nghiệm đã được thành lập kể từ "Từ điển Triết học" (1881).

Con người hành động để sinh tồn, nhưng những thứ giúp sinh tồn phải có hiệu quả, và tác dụng này trước hết được kiểm tra bằng các giác quan. Nói chung, kinh nghiệm (kinh nghiệm (tiếng Anh), Empirie (tiếng Đức), Erfahrung (tiếng Đức)) là trải qua thử thách và thử thách và tích lũy. Từ thời cổ đại ở phương Tây, công nghệ đang ở trong thử nghiệm / thử nghiệm (Peira peira (Hy Lạp)) (Empeiria (Hy Lạp)) và dựa trên thử nghiệm / thử nghiệm (Experientia (Latin)) là công nghệ. Nó được cho là nền tảng cho kiến thức (technē (tiếng Hy Lạp)) và kiến thức lý thuyết (episteme epistēmē (tiếng Hy Lạp)). Trong trường hợp này, kinh nghiệm đã được kết hợp thành một phần của kiến thức như là kiến thức thực nghiệm. Đó là một loại kiến thức được con người thu nhận thông qua thử nghiệm và sai lầm. Ngay cả việc thử và sai này cũng dựa trên sự lôi cuốn các giác quan, và từ đây, thuyết duy cảm giới hạn trải nghiệm trong thế giới đối tượng của giác quan hoặc cảm tính, thuyết hiện tượng học giới hạn trải nghiệm trong thế giới hiện tượng gợi cảm, và xác định sự vật bằng các giác quan hoặc sự nhạy cảm Chủ nghĩa thực chứng xác nhận cơ sở được thiết lập như là xu hướng chủ đạo của lý thuyết thực nghiệm. Chủ nghĩa thực dụng từ cuối thế kỷ 19 và chủ nghĩa thực chứng lôgic từ nửa đầu thế kỷ 20 có thể được coi là chủ nghĩa kinh nghiệm hiện đại. Một trong những đại diện của người đi trước, W. James, coi những gì được trải nghiệm trực tiếp và các mối quan hệ của nó là trải nghiệm thuần túy, và trải nghiệm thuần túy đó được gọi là bản thể vật chất hoặc tinh thần trong mối liên hệ với trải nghiệm khác bên ngoài nó. Ông đã chuyển đổi triệt để chủ nghĩa kinh nghiệm cảm tính của mình thành một chủ nghĩa kinh nghiệm cơ bản, chủ nghĩa này đã ảnh hưởng đến những ngày đầu của Ikutaro Nishida. Chủ nghĩa thực chứng lôgic đã thừa nhận khoa học hình thức, vốn không có vị trí tốt trong các chứng minh cảm tính hoặc cảm tính thông thường, vì kiến thức phân tích và mở rộng phạm vi kinh nghiệm, nhưng nó có thể đạt đến phạm vi kinh nghiệm có thể định vị triết học và đạo đức. Thay vào đó, nó chỉ giới hạn trong việc phân tích kinh nghiệm khoa học được mô hình hóa trên vật lý.

=> Chủ nghĩa kinh nghiệm cần được phát triển thành lý thuyết về kinh nghiệm của con người, bao gồm kinh nghiệm khoa học và lý thuyết về kinh nghiệm lịch sử và xã hội.

Các khái niệm sơ khởi về sự tồn tại của "các ý niệm bẩm sinh" đã là chủ đề của cuộc tranh luận giữa các nhà duy lý lục địa và các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa Anh trong suốt thời gian từ thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18. John Locke, George Berkeley, và David Hume đã là những người diễn giải chính của chủ nghĩa kinh nghiệm.

 

5. Chủ nghĩa kinh nghiệm lôgic

Vào đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa kinh nghiệm lôgic (còn gọi là chủ nghĩa thực chứng lôgic (logical positivism) hay chủ nghĩa chứng thực mới (neopositivism)) là một cố gắng để tổng hợp các tư tưởng cốt lỗi của chủ nghĩa kinh nghiệm Anh với một số hiểu biết từ ngành lôgic toán học do Gottlob Frege và Ludwig Wittgenstein phát triển. Một số nhân vật quan trọng trong phong trào này là Otto Neurath, Moritz Schlick và những người còn lại của Vienna Circle, cùng với A.J. Ayer, Rudolf Carnap và Hans Reichenbach.

Về các nhà thực chứng mới có chung một quan niệm rằng triết học là sự làm trong sáng về khái niệm của các phương pháp, hiểu biết và các phát kiến của khoa học.

 

(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).