NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm và các chủ thể liên quan.

1.1 Hợp đồng bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.Trong 1 Hợp đồng bảo hiểm cần nhắc tới 4 chủ thể chính là: Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), Bên mua bảo hiểm (BMBH), Người được bảo hiểm (NĐBH) người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng (NTH) và cuối cùng đó chính là người thụ hưởng (NTH)

1.2 Một số khái niệm.

a. Bên mua bảo hiểm.

Bên mua bảo hiểm: là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.

b. Người được bảo hiểm.

Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng. Khi rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm xảy ra đối với người này sẽ làm phát sinh trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là bên mua bảo hiểm. Nếu người được bảo hiểm không phải là bên mua bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm phải có Quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với người được bảo hiểm.

c. Người thụ hưởng.

Người thụ hưởng: là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.

Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, không nhất thiết phải quy định rõ người thụ hưởng. Nếu trong hợp đồng không thỏa thuận về người thụ hưởng,số tiền bảo hiểm được trả là tài sản của bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm (tùy quy định của từng doanh nghiệp bảo hiểm) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm có thể thay đổi người thụ hưởng nhưng phải được sự đồng ý của người được bảo hiểm bằng văn bản.

>> Xem thêm:  Hợp đồng bảo hiểm là gì ? Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm

1.3 Quyền lợi có thể được bảo hiểm

Là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, trong đó sự rủi ro của người được bảo hiểm sẽ gây tổn thất về tài chính hoặc tinh thần cho bên mua bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể bảo hiểm đối với những người sau đây:

• Bản thân bên mua bảo hiểm;

• Vợ, chồng, con, cha, mẹ hợp pháp của bên mua bảo hiểm;

• Anh chị em ruột, người có quan hệ nuôi dưỡng/giám hộ hợp pháp;

• Cháu trực hệ của bên mua bảo hiểm;

• Người khác nếu bên mua bảo hiểm phải chịu một tổn thất tài chính thật sự khi người được bảo hiểm chết;

2. Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể.

Qua những khái niệm trên mình có thể phân tích được mối quan hệ giữa Doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng, các chủ thể này có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.

2.1 Mối quan hệ giữa chủ thể của hợp đồng bảo hiểm và chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm.

Thông thường, chủ thể của một hợp đồng dân sự cũng chính là chủ thể của quan hệ nghĩa phát sinh từ hợp đồng. Tuy nhiên, đó chỉ là trong những trường hợp người tham gia hợp đồng cũng chính là người có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà họ đã tham gia. Đối với các hợp đồng mà người được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng (các hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba), thì chủ thể của hợp đồng không đồng nghĩa với chủ thể của quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Với tư cách là một hợp đồng dân sự, hợp đồng bảo hiểm cũng nằm trong tình trạng đó, do đó, xem xét mối liên hệ giữa chủ thể của hợp đồng bảo hiểm với chủ thể của quan hệ về nghĩa vụ bảo hiểm cũng vì lí do trên.

a. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm. (là các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm) bao gồm:

>> Xem thêm:  Giám định tổn thất bảo hiểm là gì ? Quy định của pháp luật về giám định tổn thất bảo hiểm ?

- Bên bảo hiểm (còn gọi là bên nhận bảo hiểm hoặc bên bán bảo hiểm): là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình. Do nghĩa vụ của bên nhận bảo hiểm rất lớn khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm, nên bên nhận bảo hiểm phải là các tổ chức có cơ cấu chặt chẽ và nguồn vốn lớn mạnh mới có thể đảm nhận được nghĩa vụ bồi thường. Chính vì vậy, pháp luật về bảo hiểm quy định bên nhận bảo hiểm phải là các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bảo hiểm.

- Bên tham gia bảo hiểm (còn gọi là bên mua bảo hiểm) là bên đã nộp cho bên nhận một khoản tiền là phí bảo hiểm khi kí kết hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm. Khác với bên nhận bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm là cá nhân, tổ chức bất kỳ. Tuy nhiên, các chủ thể này phải có đủ năng lực chủ thể và có mối quan hệ nhất định đối với đối tượng được bảo hiểm.

b. Chủ thể của quan hệ về nghĩa vụ bảo hiểm.

Là những người có quyền, nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm. Quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm là quan hệ giữa một bên có nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại với một bên được thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Vì vậy, chủ thể của quan hệ nghĩa vụ về bảo hiểm bao gồm:

- Bên có nghĩa vụ: là doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận phí bảo hiểm từ người tham gia bảo hiểm, hay nói một cách cụ thể, thì bên có nghĩa vụ chính là bên nhận bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm làm hình thành quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm.

- Bên được bảo hiểm: là bên thụ hưởng một khoản tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thiệt hại hoặc được bên bảo hiểm đảm nhiệm thay một trách nhiệm dân sự khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Ngoài ra, bên được bảo hiểm còn được xác định cụ thể hơn thông qua hai thuật ngữ: người được bảo hiểm và người được hưởng bồi thường. Trong đó, người được bảo hiểm có thể đồng thời là người được bồi thường, nhưng có thể không đồng thời là người được hưởng bồi thường.

2.2 Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể: bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng

Mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến hợp đồng bảo hiểm được xác định cụ thể trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, trong các hợp đồng bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm trong hợp đồng đó hướng tới việc bảo hiểm cho chính mình (như bảo hiểm cho sức khỏe, tài sản…), thì bên được bảo hiểm trong quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm chính là người đã tham gia bảo hiểm.

Thứ hai, trong các hợp đồng bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm hướng tới việc bảo hiểm cho sức khỏe của người khác (như cha, mẹ tham gia hợp đồng bảo hiểm an sinh cho con), thì bên được bảo hiểm là người thứ ba được thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm (con của người tham gia bảo hiểm).
Thứ ba, trong các hợp đồng bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm hướng tới bảo hiểm tính mạng cho chính mình trong trường hợp chết, thì bên được bảo hiểm là những người thứ ba thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm (có thể là người được chỉ định trong hợp đồng bảo hiểm hoặc là người thừa kế của người tham gia bảo hiểm).

Từ việc xác định về chủ thể của hợp đồng bảo hiểm, chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm, thì:

- trường hợp thứ nhất, chủ thể của hợp đồng bảo hiểm đồng thời với chủ thể của quan hệ bảo hiểm.

- Hai trường hợp còn lại chủ thể của hợp đồng bảo hiểm không đồng nhất với chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm. Trong đó, người thứ ba ở
trường hợp thứ hai và thứ ba được gọi là người thụ hưởng.

2.3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm

Mặc dù các bên trong giao kết hợp đồng bảo hiểm chỉ bao gồm hai bên là bên bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm nhưng người tham gia bảo hiểm có thể với mục đích là bảo hiểm cho tài sản hay sức khỏe của chính mình, có thể với mục đích là bảo hiểm cho tính mạng, sức khỏe của người khác hoặc bảo hiểm trách nhiệm dân sự của mình đối với người thứ ba.

Vì vậy mà các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm có thể là ba bên. Do đó, quyền và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm được xem xét theo các bên sau đây.

Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời hoặc không đồng thời là bên được bảo hiểm, hoặc bên được bảo hiểm nhưng không đồng thời là người thụ hưởng hay không phải là bên được bảo hiểm nhưng là người thụ hưởng. Vì vậy, khi xem xét quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm cần lưu ý đến các trường hợp đó.

a. Bên mua bảo hiểm đồng thời là bên được bảo hiểm hoặc là người thụ hưởng

Về cơ bản, bên mua bảo hiểm đồng thời là bên được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

Về quyền: Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm để mua bảo hiểm; Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm; Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm; Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm; Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại.

Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm. Vì vậy, trong trường hợp người tham gia bảo hiểm cũng là người được bảo hiểm và người thụ hưởng (trong hợp đồng bảo hiểm con người mà không tham gia bảo hiểm để bảo hiểm cho chính mình và không chỉ định người khác làm người thụ hưởng) thì người tham gia bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp phải trả tiền bảo hiểm cho chính mình khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Nếu doanh nghiệp bảo hiểm chậm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại so với thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc pháp luật đã quy định, thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tại thời điểm trả tiền bảo hiểm tương ứng với thời gian chậm trả.

b. Bên mua bảo hiểm không đồng thời là bên được bảo hiểm hoặc là người thụ hưởng.

Trong trường hợp người tham gia bảo hiểm không đồng thời là người thụ hưởng hoặc không đồng thời là bên được bảo hiểm thì họ vẫn có quyền yêu cầu bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm.

Về nghĩa vụ: Đóng phí bảo hiểm theo đúng thỏa thuận; Cung cấp cho bên bảo hiểm các thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm; Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm; Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất; Chuyển yêu cầu bồi hoàn;

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Bảo hiểm hỗn hợp là gì?

Trả lời:

Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ.

Câu hỏi: Bảo hiểm tử kỳ được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Câu hỏi: Bảo hiểm sinh kỳ được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Bảo hiểm sinh kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.