1. Tác động tới quốc gia xuất xứ của lao động di cư

1.1 Tác động tích cực tới quốc gia xuất xứ của lao động di cư

Sự di chuyển của người lao động sang quốc gia khác mang lại một số tác động tích cực đối với quốc gia gửi lao động, điều này thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:

Thứ nhất, di chuyến quốc tế về lao động góp phần giảm gánh nặng dân số và tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động tại các quốc gia dư thừa lao động.

Trên thế giới, nhiều quốc gia có tốc độ gia tăng dân số cao, trong khi nền kinh tế phát triển với tốc độ không đù nhanh để tạo ra những việc làm mới, khiến tỉ lệ thất nghiệp tại các quốc gia này có xu hướng tăng dần. Nhiều người lao động mong muốn được ra nước ngoài làm việc, và khi tham gia lực lượng lao động xuất khẩu, họ có thể nhận được việc làm với mức thu nhập cao hon so với khi không đi sang quốc gia khác để tìm việc, và như vậy cũng tạo thêm cơ hội cho những lao động khác đang bị thất nghiệp tại địa phương của quốc gia gửi lao động tìm được công việc phù hợp, làm giảm lượng cung lao động tại chỗ ở nước gửi lao động và khiến tiền công cho phần lực lượng lao động ở lại tăng lên. Điều này sẽ góp phần mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia.

Vì di chuyển lao động quốc tế là hoạt động lựa chọn, nên nó có thể gây áp lực về tiền lương đối với người lao động ở một số lĩnh vực. Ví dụ, tại Pakistan, người nhập cư từ các nước Vùng Vịnh làm gia tăng mức lương trả cho những lao động ngành xây dựng có kĩ năng, và cả những lao động ít kĩ năng trong ngành xây dựng và nông nghiệp. Tương tự, mức lương thực tế tại Philippines đã tăng cùng chiều với số người di cư, đặc biệt là những lao động trong ngành chế tạo. Tại Ấn Độ, có những chỉ báo cho thấy một lượng lớn người di cư từ bang Kerala tới khu vực Vùng Vịnh góp phần làm tăng lương ở bang này. Một số quốc gia có tỉ lệ di cư ròng cao cũng gặp phải những vấn đề liên quan đến thất nghiệp. Tại những quốc gia nhỏ có lượng người nước ngoài cao, tỉ lệ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm giảm xuống do di dân có thể ở mức đáng kể.

Tuy nhiên, có nghiên cứu cho rằng, tại những quốc gia gửi lao động có số lượng dân cư đông, mức người di cư cao có thể có tác động không nhiều tới thất nghiệp và mức lương.

Thứ hai, di chuyến quốc tế về lao động giúp tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, tăng von đầu tư tư nhăn, cùng với những kiến thức và công nghệ tiên tiến.

Những người di cư đang ở nước ngoài vẫn có thể có tác động tích cực đối với nước xuất xứ, theo đó, họ đóng góp thông qua số tiền kiều hối chuyển về nước, qua hoạt động chuyển giao kiến thức, công nghệ và vốn đầu tư về nước nhằm giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động tại quê hương. Khi những người nhập cư này hồi hương cùng với những kĩ năng hoặc khoản tiền có được, họ có thể có đóng góp tích cực vào sự phát triển của nước xuất xứ.

Các khoản kiều hối do người lao động di cư gửi về là nguồn thu nhập đáng tin cậy và ổn định, có xu hướng dao động ít do tác động của chu kì kinh tế hơn và do đó ít biến động hơn so với các dòng vốn khác. Nguồn vốn này chảy thẳng vào khu vực dân cư, do đó có tính thúc đẩy đầu tư tư nhân cao, giải quyết việc làm, nâng cao mức thu nhập cho các chủ thể nhận kiều hối và các chủ thể được hưởng lợi từ nguồn đầu tư kiều hối. Trong khi nguồn vốn FDI có thể để lại nhiều tác động tiêu cực như gây ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội gia tăng và nếu các doanh nghiệp FDI không xuất khẩu thì sẽ làm tăng mức độ cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Còn đối với nguồn vốn ODA cũng là nguồn vốn quan trọng, nhưng phần lớn là vốn vay, nếu sử dụng không tốt sẽ tạo ra gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau. Trong khi đó, nguồn vốn kiều hối vừa không phải lo trả nợ vừa không phải đối mặt với một số tác động tiêu cực trên...

Tuy nhiên, kiều hối có thể khiến xuất khẩu trở nên kém cạnh tranh hơn và đầu tư vào những ngành thay thế nhập khẩu trở nên kém hấp dẫn hơn, vì chúng có xu hướng đẩy giá trị của nội tệ hoặc tỉ giá hối đoái lên. Nhưng phần lớn các nhà hoạch định chính sách tại các nước xuất xứ dường như cho rằng tác động này về tổng thể là tích cực, đặc biệt là do nhu cầu trao đổi ngoại hối để bù đắp khoản thâm hụt thương mại và các khoản nợ nước ngoài.

Thứ ba, người lao động sang quốc gia khác làm việc góp phần thiết lập những mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa quốc gia xuất xứ và tiếp nhận, qua đó tạo điều kiện thuận lợi trong trao đổi thương mại, tăng cường hợp tác về chỉnh trị, văn hóa, khoa học - kĩ thuật... giữa haỉ quốc gia.

Ví dụ điển hình nhất là liên quan đến ngành công nghệ thông tin (CNTT) của Ấn Độ. Ban đầu, Chính phủ Ấn Độ không dành nhiều nỗ lực để phát triển ngành CNTT, lo ngại rằng nó sẽ làm mất đi nhiều việc làm. Nhung các doanh nghiệp đa quốc gia tại Ấn Độ nhận thấy có nhiều tài năng CNTT ở nước này và gửi các công dân Ấn Độ ra nước ngoài làm việc. Trong khi đó, các doanh nghiệp Ấn Độ cũng đưa các chuyên gia CNTT ra nước ngoài và nhanh chóng nhận ra lợi ích của việc đưa một vài người trong số họ trở lại làm việc ở trong nước. Chính phủ Ấn Độ sau đó thúc đẩy ngành CNTT bằng cách giảm các hàng rào đối với máy tính nhập khẩu và giúp bảo đảm những hạ tầng cần thiết. Cho đến năm 2005-2006, Ấn Độ đã đạt mức doanh thu 23,4 tỉ USD hàng năm từ việc xuất khẩu các sản phẩm phần mềm và dịch vụ CNTT.

Thứ tư, xuất khẩu lao động góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại nước gửi lao động.

Khi các lao động di chuyển ra nước ngoài làm việc, họ được tiếp cận những công nghệ tiên tiến và những kiến thức hiện đại, ý thức kỉ luật và lối sống văn minh, trình độ ngoại ngữ và tay nghề, kĩ năng nghề nghiệp của người lao động cũng dần được nâng cao. Do vậy, nước có lao động di cư đã tiết kiệm được chi phí đào tạo họ. Mặt khác, khi những lao động này quay trở về nước, họ sẽ mang theo những kiến thức và kĩ năng đã tích lũy và rèn luyện được để áp dụng vào quy trình sản xuất, kinh doanh mà họ tham gia. Điều này góp phần thúc đẩy năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và đóng góp tích cực giúp nền kinh tế quê hương tăng trưởng.

Cơ hội đi làm việc tại nước ngoài sẽ tăng thêm động lực đầu tư vào giáo dục của cả nhà nước và của mỗi gia đình, mỗi cá nhân. Nhờ đó, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và các điều kiện khác để tổ chức đào tạo và đào tạo lại lao động được cải thiện, mỗi cá nhân cũng sẽ có thêm động lực để học tập, trau dồi trình độ, tay nghề và điều này mang lại nhiều lợi ích cho xã hội nói chung. Ngoài ra, các thể chế và chính sách trong quốc gia gửi lao động cũng có thể chịu ảnh hưởng từ sự kiện số người lao động ra nước ngoài làm việc, điển hình như nhà nước cải thiện các chính sách giữ lại lao động có kĩ năng, các doanh nghiệp tăng cường các chính sách thu hút người lao động có trình độ vào làm việc lâu dài...

 

1.2 Tác động tiêu cực tới quốc gia xuất xứ của lao động di cư

Thứ nhất, sự di chuyển của lao động trình độ cao sang nước khác làm giảm nguồn cung cấp nhân lực, là một trong những nguồn lực có ỷ nghĩa quan trọng đóng góp vào tăng trưởng và phát triến của mỗi quốc gia.

Những lao động di chuyển sang quốc gia khác vì nhiều lý do, bao gồm mức lương cao hơn, cơ hội tốt hơn và khả năng thăng tiến tốt hơn. Tuy nhiên, không phải tất cả người lao động đều có cơ hội như nhau để di chuyển sang quốc gia khác làm việc. Những nước tiếp nhận có thể tuyển chọn phàn lớn là những người giỏi, có trình độ và tay nghề, lấy đi những người mà các quốc gia nghèo đã đầu tư nhiều cho giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, thường là bằng ngân sách công.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, 77 quốc gia trải qua tình trạng bị giảm 10% trở lên những công dân trình độ đại học vào năm 2000, trong khi 28 quốc gia bị giảm 30% trở lên. Ngoài ra, theo WB, các nước Caribbean đã bị thu hút hơn 60% những công dân có kĩ năng di cư ra nước ngoài. Ước tính 56% những người nhập cư có học vấn cao tại các nước OECD là đến từ các nước đang phát triển.

Chảy máu chất xám là mối lo ngại thực sự, đặc biệt là với các nước đang phát triển và chậm phát triển, vì nó có thể có tác động rất lớn đối với sự phát triển bền vững, làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn của quốc gia đó. Các nước có nhiều lao động có kĩ năng rời đi có thể phải chịu ảnh hưởng của việc sụt giảm nguồn lực. Còn các doanh nghiệp địa phương đầu tư vào quá trình đào tạo cũng sẽ gặp khó khăn để thu hồi khoản đầu tư của mình nếu các lao động được đào tạo của họ thường xuyên rời sang nước ngoài làm việc. Trong nhiều trường hợp, tình trạng chảy máu chất xám còn dẫn đến sự lãng phí về công sức, chi phí đào tạo nếu những lao động này không làm việc đúng trình độ và chuyên môn của họ.

Thứ hai, việc di chuyến của người lao động có kĩ năng có thể cũng tác động tới dòng chuyển của vốn.

Các quốc gia không có đủ lao động có kĩ năng tại địa phương có thể không thành công trong việc thu hút FDI từ các doanh nghiệp nước ngoài, do lo ngại không tuyển dụng đủ lao động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc phải chi nhiều tiền hơn cho hoạt động đào tạo khi tuyển dụng nhân sự mới.

Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2017 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố đã chỉ ra, 69% doanh nghiệp FDI tại Việt Nam cho biết đang gặp phải khó khăn trong việc tuyển dụng các cán bộ kĩ thuật có tay nghề để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Theo đó, doanh nghiệp FDI đánh giá chất lượng đào tạo và hiệu quả của lao động Việt Nam năm 2017 đạt 3,8 điểm. Điều này dẫn tới doanh nghiệp phải chi nhiều tiền hơn cho hoạt động đào tạo khi tuyển dụng nhân sự mới. Báo cáo ghi nhận chi phí trung bình cho hoạt động này chỉ chiếm 3,6% chi phí kinh doanh vào năm 2013, nhưng sau đó đã tăng vọt lên 5,9% trong năm 2014 và ở mức 5,7% vào năm 2017.

Hơn nữa, người lao động có thể không chỉ rời sang quốc gia khác làm việc, mà còn mang theo nguồn vốn đáng kể, điều này thể hiện rõ nhất thông qua hoạt động của các nhà đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, đa số các quốc gia đang phát triển đều rất cần vốn để phát triển kinh tế, đồng thời còn giúp tạo việc làm và thu nhập cho lao động trong nước.

Ngoài ra, nếu xem xét tác động của xuất khẩu lao động theo từng nhóm đối tượng, chúng ta có thể thấy một số tác động không như mong muốn như sau:

Một là, xuất khẩu lao động có thể gây ra những tác động tiêu cực về mặt xã hội như mất cân bằng giới tính, khi một số vùng địa lý, tỉ lệ nam giới hoặc nữ giới tham gia xuất khẩu lao động cao hom nhiều so với giới tính còn lại. Điều này khiến người ở lại đảm nhận thay cả vai trò của người đi xuất khẩu lao động trong gia đình nhưng vẫn không thể thay thế được hoàn toàn, khiến thiếu tình cảm gia đình, dễ dẫn tới mâu thuẫn trong gia đình và cộng đồng.

Hai là, người lao động đi làm việc ở nước ngoài dễ bị tổn thương về tinh thần hơn. Các quốc gia trên thế giới đều có hệ thống luật nhập cư, luật cư trú, luật lao động theo hướng bảo hộ quyền lợi của công dân nước mình. So với người lao động bản xứ, người lao động nước ngoài thường không được hưởng các quyền lợi ngang bằng, nên tình trạng này có thể khiến họ cảm thấy bị phân biệt đối xử, cảm thấy tự ti. Bên cạnh đó, bản thân nhiều người lao động chưa nắm rõ chính sách về lưomg, bảo hiểm, nhà ở của nước mà họ đến làm việc, và do trình độ ngoại ngữ hạn chế nên hiểu biết và chấp hành pháp luật nước sở tại gặp nhiều khó khăn. Họ chưa hiểu rõ về các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, dễ vi phạm pháp luật nước sở tại và cũng không biết vận dụng luật pháp nước sở tại để tự bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình. Chính những điều này dẫn tới nhiều người lao động nhập cư có khuynh hướng sống khép kín hơn, cùng với việc phải sống xa gia đình trong môi trường hoàn toàn mới khiến họ dễ gặp các vấn đề về tâm lý hơn.

 

2. Tác động tới nước tiếp nhận lao động di cư

2.1 Tác động tích cực tói nước tiếp nhận lao động di cư

Thứ nhất, người lao động di cư có đóng góp tích cực đối với tảng trưởng và chuyển đổi cơ cấu lãnh tế của quổc gia tiếp nhận.

Điều này đã được chứng minh rõ nét từ thực tế trong lịch sử của các quốc gia đã trải qua tình trạng nhập cư. Tại châu Âu, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, những lao động nhập cư đã được ghi nhận đóng góp tích cực vào quá trình hơn 30 năm tăng trưởng của khu vực. Phân tích thống kê đối với 15 nước châu Âu giai đoạn 1991 - 1995 cho thấy, với mỗi 1% tăng lên của dân số quốc gia do gia tăng người nhập cư, GDP của nước tiếp nhận cũng tăng lên 1,25 - 1,5%? Còn tại Bắc Mỹ, nhiều thế hệ người di cư tới Canada và Hoa Kỳ đã góp phần trẻ hóa dân số và tiếp thêm năng lượng cho nền kinh te, hoặc nếu tác động của di cư đối với thị trường lao động là không lớn, nó cũng giúp khuyến khích sự tích tụ vốn của các quốc gia này.

Thứ hai, người lao động di cư góp phần tích cực làm tăng thu nhập của người dân.

WB cho rằng, giả sử di cư từ các nước đang phát triển tới các quốc gia thu nhập cao tăng ở mức vừa phải (14,2 triệu lao động, bao gồm 4,5 triệu lao động có kĩ năng và một số lượng tương ứng người lao động kĩ năng thấp), như vậy khiến tỉ lệ người di cư trong tổng số người lao động tại các quốc gia thu nhập cao sẽ tăng lên thêm 3%/năm cho đến năm 2025. Điều này được dự đoán sẽ làm tăng thu nhập thực tế toàn cầu 0,6%, tương đương 356 tỉ USD và được minh họa trong bảng sau:

Những lao động di cư mới được dự đoán sẽ nhận được nhiều nhất về thu nhập thực tế, trong khi những lao động bản xứ tại cả quốc gia thu nhập cao và các nước đang phát triển cũng được dự đoán thu nhập thực tế tăng lên. Người lao động bản xứ tại các nước đang phát triển cũng có thu nhập được cải thiện nhờ kiều hối và mức lương tăng lên, nguyên nhân là do thị trường lao động được giảm sức ép. Chỉ có những người di cư trước đó ở những quốc gia thu nhập cao là được dự đoán sẽ bị thiệt do phải cạnh tranh với những người di cư mới.

Thứ ba, lao động nhập cư góp phần nâng cao hiệu quả của thị trường lao động tại nước tiếp nhận.

Nghiên cứu một số trường hợp tại các nước châu Âu cho thấy, trong phần lớn các trường hợp, nhập cư bổ sung lao động cho quốc gia tiếp nhận và không mang lại những tác động tiêu cực đối với triển vọng công việc cũng như mức lương của người lao động bản xứ.

Những lao động nhập cư đóng góp vào việc tạo việc làm thông qua nhiều cách thức, từ việc kinh doanh cho đến làm tăng nhu cầu nội địa đối với hàng hóa, dịch vụ và cải thiện hiệu quả của thị trường lao động. Sự gia tăng tiêu dùng do tăng số người nhập cư cũng làm tăng nhu cầu tổng thể và tăng trưởng kinh tế, cải thiện kết quả kinh tế đối với người bản xứ.

Đồng thời, nhập cư đóng vai trò quan trọng trong cải thiện hiệu quả thị trường lao động. Tất cả các lĩnh vực mà người lao động bản xứ không muốn làm, ví dụ như những công việc thiếu vệ sinh, nguy hiểm và khó khăn, những dịch vụ gia đình có thu nhập thấp, những công việc đòi hỏi ít kĩ năng trong nền kinh tế phi chính thức, những công việc trong những ngành có biến động theo mùa mạnh mẽ (như trồng trọt, xây dựng và làm các công trình giao thông, các dịch vụ khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ liên quan đến du lịch khác), phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung lao động nhập cư. Trong trường hợp không có người lao động di cư, những ngành này có thể phải đối mặt với sự thiếu hụt nghiêm trọng về lao động hoặc khiến chi phí thuê lao động tăng cao.

Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu cho thấy lao động di cư có mang lại những tác động tiêu cực về việc làm đối với lao động bản xứ, nhưng ở mức thấp.

 

2.2 Tác động liêu cực tới nước tiếp nhận lao động di cư

Thứ nhất, lao động nhập cư được cho là cỏ tảc động tiêu cực nhưng ở mức độ thấp đổi với mức lương và thu nhập của người lao động bản xứ.

Những nghiên cứu tại một số nước châu Ầu đưa ra nhiều kết luận khác nhau. Nghiên cứu tại Đức năm 1995 dựa trên các dữ liệu của bảng điều tra hộ gia đình cho thấy, mỗi 1 % tăng lên của tỉ lệ công dân người nước ngoài trong tổng dân số trên thực tế có tác động tích cực rất nhỏ, làm tăng khoảng 0,6% đối với mức lương tổng thể của lao động trong nước, trong khi mức lương của người bản xứ có kĩ năng cao tăng cao hơn, lên đến 1,3%. Đa số các nghiên cứu thực nghiệm tại Anh cũng nhất trí rằng không có tác động có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ người nhập cư và kết quả của thị trường lao động. Những nghiên cứu khác phát hiện ra tác động tiêu cực đến mức lương của người bản xứ, nhưng rất nhỏ, từ -0,3% cho đến -0,8%.

Còn tại Hoa Kỳ, một số nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng nhập cư có rất ít tác động đến lương của người lao động bản xứ, điển hình là kết luận cho rằng khi tỉ lệ người nhập cư trong một vùng tăng lên 10% sẽ làm giảm lương của người bản xứ tại vùng đó một tỉ lệ ít hơn 1% và thường là chỉ xấp xỉ mức 0%?

Tại hầu hết các nước EU, người nhập cư, và đặc biệt là người nhập cư từ các nước ngoài EU, nhiều khả năng bị thất nghiệp hoặc thiếu việc làm hơn so với người bản xứ. Mặc dù tình trạng rất khác nhau giữa các quốc gia, nhưng bức tranh chung cho thấy điều này là kết quả của việc người nhập cư có học vấn và kĩ năng thấp hơn so với mức trung bình của người lao động bản xứ. Đây cũng là trường hợp tại Hoa Kỳ, mức lương theo giờ của lao động nam giới nhập cư thấp hơn 23% so với của lao động nam giới bản xứ, chủ yếu do tỉ lệ người nhập cư có trình độ học vấn thấp gia tăng nhanh.

Thứ hai, người nhập cư có thể trở thành gánh nặng về tài chỉnh đối với quốc gia tiếp nhận.

Một số nghiên cứu cho rằng quốc gia tiếp nhận phải dành nhiều chi tiêu hơn cho các dịch vụ công và các khoản thanh toán phúc lợi mà người lao động nhập cư được hưởng hơn là khoản đóng góp của họ thông qua thuế và an sinh xã hội.

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng người nhập cư tại Hoa Kỳ thu nhập thấp ít khả năng nhận trợ cấp hơn so với người bản xứ cùng hoàn cảnh. Xem xét dài hạn cho thấy, mặc dù người nhập cư tại Hoa Kỳ trong những năm đầu làm gia tăng chi phí, đặc biệt là chi dành cho giáo dục, nhưng cuối cùng mỗi người nhập cư, thông qua việc trả các khoản thuế của họ, sẽ có những đóng góp tích cực vào ngân sách quốc gia khoảng 80.000 USD?

Tác động tài chính của người nhập cư có phần phụ thuộc vào độ tuổi mà người nhập cư đến quốc gia tiếp nhận. Những người nhập cư đến trong độ tuổi lao động nhiều khả năng có đóng góp lớn hơn vào nguồn tài chính công và an sinh xã hội so với những người đến khi còn trong độ tuổi chưa thành niên. Một nghiên cứu tại Đức cho thấy, một cá nhân nhập cư lúc 30 tuổi sẽ đóng góp 110.000 Euro trong suốt quãng đời của người đó, trong khi nếu người nhập cư đến khi chưa tròn 1 tuổi sẽ tạo ra khoản thâm hụt tài chính công ở mức 60.000 Euro. Với 78% người nhập cư tại Đức là trong độ tuổi lao động, trung bình người nhập cư đã đóng góp khoảng 50.000 Euro trong suốt quãng đời của họ. Vì vậy, người nhập cư giúp Chính phủ Đức thu hẹp khoảng cách giữa mức thuế thu được và chi tiêu và các khoản nợ của chính phủ.

The British Home Office thực hiện nghiên cứu chi tiết hon về tác động về tài chính của dân số nhập cư đến Anh và ước tính rằng người nhập cư giai đoạn 1999 - 2000 đã chi trả 31,2 tỉ Bảng Anh (GBP) nhưng chỉ sử dụng 28,8 tỉ GBP các khoản trợ cấp và các dịch vụ của nhà nước, đóng góp tài chính ròng khoảng 2,5 tỉ GBP.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại đưa ra những kết luận ngược lại, cho rằng người lao động nhập cư không những không làm ảnh hưởng tới các khoản phúc lợi mà người lao động bản xứ được hưởng, mà còn đóng góp tích cực vào nguồn quỹ này.

Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã kết luận rằng người nhập cư sử dụng nhiều phúc lợi hơn người bản xứ xét về các khoản hỗ trợ và chăm sóc y tế công cộng, chủ yếu là do họ có trình độ học vấn và thu nhập thấp hơn. Nghiên cứu tại Australia năm 2000 cho thấy, người nhập cư, đặc biệt là những người trong nhóm trẻ tuổi, ít khả năng nhận thanh toán phúc lợi hơn so với những người sinh ra tại nước này.

Theo nghiên cứu năm 2014, người nhập cư từ EU có đóng góp tích cực về mặt tài chính đối với Anh, vì họ chi trả thông qua thuế nhiều hơn là họ nhận được từ các khoản thanh toán phúc lợi trong giai đoạn 2001 - 2011, thậm chí cả trong thời kì khi Anh phải đối mặt với thâm hụt tài chính. Trong giai đoạn 2001 - 2011, người nhập cư từ các nước EU-15 đã đóng góp thông qua các khoản thuế nhiều hơn 64% so với những gì họ nhận được. Người nhập cư từ các nước A10 đóng góp nhiều hơn 12% so với những khoản họ nhận được. Còn người nhập cư EEA tới Anh từ năm 2000 đã đóng góp hơn 20 tỉ GBP vào ngân sách tài chính công của Anh giai đoạn 2001 - 2011.

Thứ ba, vấn đề nhập cư có thế tác động đến an ninh quốc gia hay tội phạm.

Vấn đề người lao động nhập cư tăng lên sẽ làm tăng tỉ lệ tội phạm tại quốc gia tiếp nhận là mối lo ngại đối với nhiều người bản xứ. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn chưa có sự thống nhất về mối tương quan giữa hai đối tượng này. Theo dữ liệu của Eurostat, trong giai đoạn 1999 - 2006, tổng số vụ phạm tội của người nhập cư trong khu vực đã tăng lên khoảng 9%. Tuy nhiên theo một số nghiên cứu khác, không thấy tác động của việc gia tăng người nhập cư từ năm 2004 đối với tỉ lệ tội phạm.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)