Phương pháp điều chỉnh luôn song hành với đối tượng điều chỉnh như hai yếu tố quyết định tới việc xác định một ngành luật độc lập. Tuy nhiên, để phân biệt một ngành luật độc lập, tính đặc thù của phương pháp điều chỉnh có thể không tuyệt đối như tính đặc thù của đối tượng điều chỉnh. Bên cạnh các phương pháp đặc thù của mình, một ngành luật độc lập vẫn có thể sử dụng phương pháp điều chỉnh giống như phương pháp điều chỉnh của ngành luật khác.

Phương pháp điều chỉnh nổi bật nhất của ngành Luật hiến pháp là xác lập những nguyên tắc chung cho các chủ thể khi tham gia vào các mối quan hệ mà ngành luật này điều chỉnh.

Ví dụ điên hình về phương pháp này là quy định tại khoản 1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Với quy định này, ngành LUẬT HIẾN PHÁP điều chỉnh một mối quan hệ cơ bản trong lĩnh vực chính trị, đó là quan hệ về bản chất của Nhà nước Việt Nam. Để làm điều đó, ngành LUẬT HIẾN PHÁP không quy định cụ thể những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể mà chỉ quy định những tư tưởng, quan điểm định hướng - những nguyên tắc mà các chủ thể - như các cơ quan nhà nước, Đảng Cộng sản, các tổ chức chính trị-xã hội và các chủ thể có liên quan khác phải tôn trọng khi tham gia vào các mối quan hệ cụ thể trong lĩnh vực tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Ngành LUẬT HIẾN PHÁP có rất nhiều quy định áp dụng phương pháp này để tác động lên các quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh, đặc biệt là các quy định ở Chương I, Chương II và Chương III Hiến pháp năm 2013. Tất nhiên, trong những trường hợp nhất định thì ngành LUẬT HIẾN PHÁP cũng quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể tham gia quan hệ, đặc biệt là các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, hoặc các quy định cụ thể trong lĩnh vực bầu cử... Tuy nhiên, phương pháp chủ đạo vẫn là xác định nguyên tắc cho các chủ thể khi tham gia các mối quan hệ.

Bên cạnh phương pháp đặc thù trên đây, ngành LUẬT HIẾN PHÁP cũng sử dụng một số phương pháp điều chỉnh khác như phương pháp trao quyền, phương pháp cấm và phương pháp bắt buộc.

Phương pháp trao quyền là phương pháp điều chỉnh mà theo đó pháp luật quy định cho các chủ thể một phạm vi quyền hạn hoặc một quyền cụ thể, tương ứng là nghĩa vụ của các chủ thể khác phải tôn trọng việc thực hiện quyền của các chủ thể được trao quyền. Ngành LUẬT HIẾN PHÁP

sử dụng phương pháp này chủ yếu để quy định quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, ví dụ Quốc hội có quyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật (theo Khoản 1 Điều 70 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013); Chủ tịch nước có quyền công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh (theo Khoản 1 Điều 88 Hiên pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013); Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ v.v.. (theo Khoản 1 Điều 80 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013 và Khoản 2 Điều 22 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013).

Phương pháp cấm là phương pháp điều chỉnh mà theo đó pháp luật áp đặt nghĩa vụ lên chủ thể tham gia quan hệ không được thực hiện một hành vi cụ thể. Ngành LUẬT HIẾN PHÁP sử dụng phương pháp này chủ yếu để bảo vệ các quyền tự do cơ bản không bị xâm hại bởi các cơ quan, tổ chức hay cá nhân, ví dụ các quy định: “không ai được tự ỷ vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ỷ, “không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác” - Đoạn 2 khoản 2 Điều 21 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013. Bên cạnh đó, phương pháp này cũng được sử dụng để điều chỉnh một số mối quan hệ trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Ví dụ “việc kéo dài nhiệm kì của một khoá Qụổc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường hợp có chiến tranh”Ỷ “không được bắt, giam, giữ, khởi tổ đại biểu Quốc hội nếu không có sự đồng ỷ của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ỷ của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; trong trường hợp đại biểu Quốc hội phạm tội quả tang mà bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo đế Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định”.

Phương pháp bắt buộc là phương pháp điều chỉnh mà theo đó pháp luật áp đặt một nghĩa vụ xử sự, hay nói cách khác là nghĩa vụ thực hiện một hành vi nhất định lên các chủ thể tham gia quan hệ. Ngành LUẬT HIẾN PHÁPP sử dụng phương pháp này để quy định các nghĩa vụ cơ bản của người dân, ví dụ “mọi người ...có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”? “công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc”- Khoản 3 Điều 71 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013; “mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định” - Khoản 3 Điều 75 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013... Bên cạnh đó, phương pháp này cũng được sử dụng khá phổ biến để quy định về một sổ khía cạnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, ví dụ: “khỉ ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lẩy ỷ kiến của Hội đồng dân tộc”- Khoản 2 Điều 80 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013. “người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kì họp hoặc tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kì họp Quốc hội”?

Ba phương pháp trên đây là những phương pháp điều chỉnh mang tính chất quyền uy, nghĩa là các bên phải tuyệt đối tuân thủ phạm vi quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định mà không được tự thoả thuận thêm. Các phương pháp này không những được ngành LUẬT HIẾN PHÁPP sử dụng mà còn đồng thời được sử dụng bởi một số ngành luật khác như ngành luật hành chính, luật hình sự, luật tố tụng hình sự V.V..

>> Xem thêm:  Luật hiến pháp là gì ? Tìm hiểu quy định về luật hiến pháp

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Phân tích nguồn của ngành luật hiến pháp ?