1. Giai đoạn trước năm 1945

Qua các văn bản pháp luật còn lưu giữ đến ngày nạy cho thấy các quy định về tổ tụng dân sự của nhà nước phong kiến chịu ảnh hưởng rất lớn của quan điểm nho giáo, ghi nhận cả những hủ tục, tập quần lạc hậu như hạn chế quyền đi kiện của con chán đối vói ông, bà, cha, mẹ; vợ đối với chồng (từ Điều 504 đến Điều 511 Quốc triều hình luật); không cho mượn người đi kiện thaỵ, nếu ai tự tiện mượn người đi kiện thay thì người mượn và người đi kiện thay phầi chịu hình phạt như nhau, bị xử đánh roi, xích sắt khoá lại bắt lăm phu phục dịch một tháng.

Dưới thời kỳ Pháp thuộc, tổ chức tư pháp ờ nước ta rất phức tạp. Sau bản Hoà ước Giáp Thân ngày 06/6/1884 được ký kết, nước Việt Nam về phương diện pháp lý đã trở thành thuộc địa của Pháp. Bên cạnh các toà án của Việt Nam còn có các toà án của Pháp được thiết lập ở Nam Kỳ và các thành phố khác như Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Nam Định. Toà án của Pháp có thẩm quyền xét xử tất cả các việc có liên quan đến người Pháp, hoặc người nước ngoài được ữu đãi như người Pháp. Toà án của Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết những việc xảy ra giữa người Việt Nam với nhau. Tuy vậy, trong thời kỳ này pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam bước đầu đã có sự phát triển. Những năm đầu thế kỳ XX, chính quyền phong kiến Việt Nam đã ban hành được hàng loạt các văn bản pháp luật có quy định về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự như Bộ Bắc kỳ pháp viện biên chế năm 1921, Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng Bắc kỳ năm 1921, Bộ Trung kỳ pháp viện biên chế năm 1935, Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng Trung kỳ năm 1935 V.V.. Nhìn chung, các văn bản pháp luật này đã quy định tương đối đầy đủ, cụ thể được các vấn đề về tố tụng dân sự, có tính đển điều kiện lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy vậy, chúng vẫn còn mang tư tưởng phong kiến lạc hậu và nhiều dấu ấn của Bộ luật tố tụng dân sự năm 1806 của Pháp.

2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra trang sử mới trong lịch sừ phát triển của dân tộc, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Từ ngày đầu được thành lập, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới. Trong đó có nhiều văn bản có chứa đựng các quy phạm tố tụng dân sự như sắc lệnh sô 34/SL ngày 13/4/1945 bãi bỏ hai ngạch quan hành chính và quan tư pháp; Sắc lệnh số 46 ngày 10/10/1945 quy định tổ chức các đoàn thể luật sư; Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho giữ tạm các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc, nếu những quy định trong luật lệ cũ không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà; sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền các toà án; sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1949 mở rộng quyền bào chữa cho các đương sự; sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng V.V.. Tuy những vấn đề về tố tụng dân sự còn được các văn bản đó quy định tản mạn nhưng đây là những quy định mang tính nguyên tắc đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật tố tụng xã hội chù nghĩa ở Việt Nam.

Năm 1954, cuộc kháng chiến chổng Pháp của nhân dân ta kểt thúc thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng miền Nam vẫn bị đặt dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền bù nhìn Sài Gòn cho tới năm 1975. Thời gian đầu chính quyền Sài Gòn vẫn áp dụng những văn bản pháp luật tố tụng được ban hành dưới thời Pháp thuộc như Nghị định ngày 16/3/1910, Dụ sổ 4 ngày 02/4/1953 về Luật nhà phố nhưng có sử dụng các quy định của Bộ dân sự tổ tụng Pháp 1806 để giải thích những thiếu sót. Từ năm 1960 trở di, chính quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng dân sự mới. Ngày 8/01/1962, bàn hành Luật số 1/62 về quy chế luật sư và tổ chức luật sư đoàn; ngày 5/6/1970, ban hành Sắc lệnh số 72/SL/CCDD/PTNNN quy định về thủ tục tố tụng của những vụ kiện điền địa; ngày 20/12/1972, ban hành Bộ luật dân sự, thượng sự tố tụng. Nhìn chung các qụy định pháp luật tố tụng dân sự của chính quyền Sài Gòn khá cụ thể, đã có những tiến bộ so với pháp luật tố tụng dân sự của chính quyền phong kiến Việt Nam trước đó. Tuy vậy, chúng cũng chỉ tập trung bảo vệ lợi ích của chính quyền tay sai, phản động.

Ở miền Bắc, từ những năm đầu hoà bình lập lại Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật tố tụng dân sự mới như Thông tư của Bộ tài chính và Bộ tư pháp số 03/VHC ngày 02/4/1955 sửa đổi tạm thời lệ phí về việc hộ; Nghị định của Bộ lao động và Bộ tư pháp về hoà giải xích mích giữa chủ và người làm công; Thông tư của Bộ tư pháp số 1828/VHC ngày 18/10/1955 về quyền chống án và thời hạn chống án; Thông tư của Bộ tư pháp số 69/TC ngày 31/12/1958 sửa đổi thẩm quyền của toà án nhân dân và thủ tục ly hôn V.V.. Sau khi Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành, Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn về công tác xét xử dân sự như Thông tư số 614/DSl ngày 24/4/1963 hướng dẫn một số thủ tục tố tụhg cho toà án địa phương, Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp về thừa kế, Thông tư số 01/UB ngày 03/3/1969 hướng dẫn việc viết bàn án sơ thẩm, phúc thâm hình sự, dân sự; Thông tư số 39/NCPL ngày 21/01/1972 hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hồn nhân và gia đình và tranh chấp về dẩn sự, Thông tư số 06/TATC ngày 25/02/1974 hướng dẫn về công tác điều trạ trong tố tụng dân sự, Thông tư sổ 25/TATC ngày 30/11/1974 hướng dẫn về công tác hoà giải trong tố tụng dân sự, Thông tư số 96/NCPL ngày 8/02/1977 ban hấnh Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự V.V.. Đẹn năm 1980, sau khi Hỉến pháp được ban hành, nhằm cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp, nhiều văn bần pháp luật quy định về tố tụng dân sự cũng được ban hành như Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1981; Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1981; Thông tư liên ngành của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Bộ tư pháp sổ 01/TTLN ngắy 01/02/1982 hướng dẫn về thủ tục giám đốc thẩm hình sự, giầm đốc thẩm dân sự ở toà án nhận dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tương đương, Thông tư liên ngành củạ Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp số 02/TTLNngày 01/02/1982 hướng dẫn về thủ tục tái thẩm hình sự, tái thẩm dân sự ở Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tường đương; Thông tư củá Toà án nhân dân tối cao sớ 82/TATC ngày 07/01/1982 tạm thòi quy định về thẩm quỳền của toà án nhân dân, Thôhg tư của TANĐTC số 83/TATC ngày 02/8/1982 hướng dẫn thủ tục giám đốc thẩm dân sự ở Toà án nhân dân tối cao; Thông tư liên ngành của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ lao động và Tổng cục dạy nghề số 02/TTLN ngày 02/10/1985 hướng dân thực hiện thẩm quyên xét xử cùa toà án nhân dân V.V.. Nhìn chung, các văn bản pháp luật được Nhà nước ta ban hành ứong thời gian từ 1954 đến 1989 đã quy định được tương đối đầy đủ, hợp lý các vẩn đề về tố tụng dân sự. Tuy vậy, các vấn đề về tố tụng dân sự vẫn còn được quy định tản mạn, chủ yểu được quy định tròng các thông tư do Toà án nhân dân tối cao ban hành hên hiệu'lực chưa cao.

3. Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004

Năm Ị 989, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giài quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thi hành an dan sự đã tạo bước phát triển mới của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Đây là các văn bản pháp luật tổ tụng dân sự đầu tiên được Nhà nước ta ban hành quỵ định các vạn đề về tố tụng dân sự có hiệu lực cao. Tiếp theo đó, nhiều vặn bản pháp luật khạc cũng được bạn hành như Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1992, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ) V.V.. Để thể chế hoá đường lối cải cách tư pháp của Đảng, sạụ khi sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Nhà nước ta đã ban hành Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Phảp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Như vậy, trong giai đoạn nấy nhiều Vắn bàn pháp luật có hiệu lực cao quy đỉnh về các vấn đề về tổ tụng đẵn sự đã được ban hành. Tuy vậy, các quy định này vẫn còn khá tàn mạn như các giai đoạn trước. Đặc biệt, với sự ra đời của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996đã dẫn đến các quy định về tổ tụng dân sự bị xé lẻ, thiếu tập trúng và cố nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn.

4. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Thực hiện đưởng lối đổi mới của Đảng, kinh tế-xã hội Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI đã không ngừng phát triển. Tuy vậy, sự phát triển kinh tế-xã hội cũng đặt ra những yêu cầu mới về giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội. Để góp phần thực hiện thắng lợi đường lối phát triển kinh tế- xã hội của Đảng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải các quyết tranh chấp, ngày 15/6/2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 5 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2005.

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm 418 điều được cơ cấu thành chín phần, ba mươi sáu chương. Nội dung của nó đã quy định được khá đầy đủ các vấn đề về tố tụng dân sự như các nguyên tắc cơ bản; thẩm quyền dân sự của toà án; cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tổ tụng; chứng minh và chứng cứ trong tố tụng dân sự; biện pháp khẩn cấp tạm thời; cấp, tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng; án phí, lệ phí và chi phí tố tụng; thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu; thủ tục giải quyết càc vụ việc dân sự; thủ tục thi hành bản án, quyết định cùa toà án; xử lý các hành vi cản ttở tố tụng; khiếu nại, tố cáo trong tổ tụng dân sự; tương ượ tư pháp trong tố tụng dân sự V.V..

Việc ban hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã đánh dấu bước phát triển của hệ thống pháp luật tổ tụng dân sự Việt Nam, khắc phục được tình ưạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy định tổ tụng dân sự trước đây đồng thời cũng thể chế hoá được quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thử IX của Đảng, Nghị quyết của Bộ chính trị sổ 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Từ đó, tạo được những điều kiện thuận lợi cần thiết cho toà án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ việc dân sự; bảo đảm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước tọà án. Theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, quy trình tố tụng dân sự tại các toà án có sự thay đổi căn bàn theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch. Trong đó, đựơng sự được có vai trò quyết định và chủ động trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án. Sau việc ban hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này như: Nghị quyết của Quốc hội sổ 32/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết của Uỷ ban thường yụ Quốc hội số 742/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 24/12/2004 về việc giao thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự cho toà án nhân dận huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Pháp lệnh án phí, lệ phí toà án ngày 27/02/2009; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 0l/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 hưởng dẫn thi hành một sổ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “chứng minh và chứng cứ” V.V..

Sau một thời gian thi hành cho thấy nhiêu quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 vẫn còn bất cập. Để khắc phục tình trạng này, ngày 29/03/2011 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khọá XII đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012. Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự đã sửa đổi các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 không còn phù hợp như về việc tham gia các phiên toà của viện kiểm sát, thẩm quyền của toà án, quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, thu thập chứng cứ, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu V.V.; đã huỷ bỏ các quy định quyền yêu cầu thi hành án dân sự, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức ttong thi hành án dân sự V.V.. Ngoài ra, Luật này cũng đã bổ sung nhiều quy định mới như quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự, thẩm quyền của toà án đối với quyết đỉnh că biệt của cơ quan, tổ chức, trình tự hoà giải vụ án dân sự, thủ tụủ đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán - Toà án nhân dân tối cao, thủ tục xết đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chửng vô hiệu V.V.. Sau khi ban hành Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bẫn hướng dẫn thi hành như: Nghị quyết của Quốc hội số 60/2011/QH12 ngày 29/3/2011 về việc thi hành Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán - Toà án nhân dân tối cao số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ Sung theo Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án-dân Sự tại toà án Cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự V.V..

Đến năm 2015, để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, ngày 25/11/2015 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự mới - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 30/12/2016, ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toắ ẩii. Ngày 30/6/2016, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 cùa Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính; ngày 31/8/2016, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC quy định việc phối hợp giữa VKSND và TAND trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS ... BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dần thi hành Bộ luật này đã quy định bổ sung nhiều vấn đề mới như nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 24), hậu quả của việc đương sự không hoàn thành nghĩa vụ chứng minh (Điều 91), phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khái chứng cứ và hoà giải vụ án dân sự (Điều 208), thủ tục rút gọn giải quyết vụ án dân sự (từ Điều 316 đẹn Điều 324), thủ tục xét tính hợp pháp của cuộc đình công (từ Điều 403 đến Điều 413) V.V.. Việc Nhà nước ban hành BLTTDS năm 2015 và các 'văn bản' hướng dẫn thi hành đã làm cho pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn;.

Chính sách của Nhà nước đối với quan hệ dân sự

1. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

2. Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật tố tụng dân sự, cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê