Luật sư tư vấn:

1. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên

1.1 Xác định cha, mẹ, con khỉ cha mẹ có hôn nhân hợp pháp

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác định.

Từ quy định trên, có thể xác định những trường hợp sau đây được coi là con chung của vợ chồng:

- Con được sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận.

Ví dụ: Chị B sinh cháu c ngày 8/3/2015. Ngày 1/12/2015 chị B kết hôn với anh A và anh A đã thừa nhận cháu c là con của mình thì cháu c được xác định là con chung của anh A và chị B.

Như vậy, tại thời điểm đứa trẻ được sinh ra thì người mẹ đang không tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp, do đó, đứa trẻ là con ngoài giá thú. Nhưng sau đó, người mẹ kết hôn và đứa trẻ trở thành con chung của vợ chồng khi được người chồng của người mẹ thừa nhận là con chung.

- Con được thụ thai trước ngày đăng ký kết hôn và được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân.

Ví dụ: Anh A và chị B kết hôn ngày 2/01/2015, khi đó chị B đã có thai được 3 tháng. Sau khi kết hôn chị B sinh con thì đứa trẻ này là con chung của vợ chồng anh A và chị B.

Như vậy, ở bất kỳ thời điểm nào trong thời kỳ hôn nhân, người vợ sinh con thì đứa trẻ đương nhiên được xác định là con chung của vợ chồng.

- Con được thụ thai và được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân.

Ví dụ: Anh A và chị B kết hôn năm 2015, năm 2017 chị B sinh cháu K thì cháu K là con chung của anh A và chị B.

Đây là trường hợp thông thường và phổ biến trong xã hội và đương nhiên được thừa nhận.

- Con được thụ thai trong thời kỳ hôn nhân và sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong thời gian tối đa là 300 ngày.

Ví dụ: Anh A và chị B là vợ chồng hợp pháp, họ kết hôn năm 2010. Tháng 2 năm 2015 anh A và chị B được Tòa án giải quyết cho ly hôn bằng một bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật. Tháng 8 năm 2015 chị B sinh cháu c. Cháu c vẫn được xác định là con chung của anh A và chị B vì chị B sinh cháu c trong vòng 300 ngày kể từ khi chấm dứt hôn nhân.

Việc xác định con chung của vợ chồng là mang tính đương nhiên. Dựa trên thời kỳ hôn nhân và sự kiện sinh đẻ của người vợ. Việc xác định quan hệ mẹ con có thể mang lại bằng chứng trực tiếp đó là sự kiện sinh đẻ của người vợ. Nhưng quan hệ cha con thì không mang lại được bằng chứng trực tiếp mà chỉ suy đoán từ sự thật khách quan rằng người phụ nữ sinh ra đứa trẻ đang tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp thì người chồng của người mẹ sẽ là cha của đứa trẻ đó. Vì vậy, mỗi khi sinh con người vợ không cần chứng minh chồng mình là cha của đứa con do mình sinh ra mà đương nhiên người chồng là cha của đứa trẻ do vợ mình sinh ra. Nếu người chồng muốn xác định lại vấn đề này thì phải yêu cầu Tòa án giải quyết và phải cung cấp chứng cứ.

1.2 Xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp

Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này sẽ khó khăn hơn vì người phụ nữ khi sinh con đang không tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp. Hiện nay, trong pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về các trường hợp xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp. Việc xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp căn cứ vào thời điểm thụ thai, thời gian mang thai và thời điểm sinh con; căn cứ vào khoảng thời gian hai bên nam nữ quan hệ tình dục và căn cứ vào mối quan hệ cha mẹ và con trên thực tế. Việc xác định con chung khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp thường bao gồm các trường hợp:

+ Con được thụ thai hoặc sinh ra do cha mẹ chung sổng với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn.

+ Con được thụ thai hoặc sinh ra trong hôn nhân trái pháp luật và Tòa án đã hủy việc kết hôn đó.

2. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản

2.1 Người phụ nữ độc thân hoặc người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh mang thai, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88. Trong trường hợp người phụ nữ sổng độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.

2.2 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con” (Khoản 22). Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng theo quy định tại Điều 94 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.3 Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

- Đối với bên nhờ mang thai hộ:

Đang tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp: Việc quy định điều kiện này nhằm hạn chế diện chủ thể được phép nhờ mang thai hộ. Việc ưu tiên chỉ áp dụng cho cặp vợ chồng vô sinh được phép nhờ mang thai hộ không chỉ xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu được làm cha làm mẹ mà còn vì sự bền vững của gia đình, giảm thiểu sự vi phạm quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng cũng như vì lợi ích của trẻ em được sống trong một môi trường gia đình đầy đủ nhất.

Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Điều kiện này nhằm xác định việc mang thai hộ là giải pháp cuối cùng khi không còn cách nào khác.

Vợ chồng đang không có con chung: Điều kiện này đẫn đến cách hiểu rằng nếu vợ, chồng đã có con riêng nhưng đang không có con chung thì vẫn thuộc trường hợp được nhờ mang thai hộ. Tuy nhiên, nếu vợ chồng không có con riêng nhưng có con chung nhưng cori chung đã cho người khác nhận nuôi hoặc con chung mắc những căn bệnh đặc biệt... thì không thuộc diện được nhờ mang thai hộ. Mặt khác, do pháp luật không quy định việc được phép nhờ mang thai hộ nhiều lần hay không nên có thể suy đoán, nếu khi nhờ mang thai hộ mà việc mang thai gặp những tai biến bất thường hoặc sau khi sinh con, đứa con chết thì họ vẫn đảm bảo điều kiện là đang không có con chung và sẽ được nhờ mang thai hộ tiếp (không có giới hạn).

Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý: Điều kiện này là rất cần thiết để cặp vợ chồng nhờ mang thai hình dung được toàn bộ quá trình mang thai hộ, những vấn đề phát sinh xung quanh việc mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của mình trong việc mang thai hộ. Từ đó, họ quyết định có thực hiện việc nhờ mang thai hộ hay không. Điều này cũng là tiền đề đảm bảo cho trẻ em sinh ra từ việc mang thai hộ.

Người chồng có tinh trùng, người vợ có noãn được xác định là đảm bảo chất lượng để kết họp thụ tinh. Điều kiện này nhằm đảm bảo đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ phải là đứa con ruột thịt của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Từ đó, nâng cao trách nhiệm của bên nhờ mang thai hộ đối với quá trình mang thai và sinh con của bên mang thai hộ cũng như ữách nhiệm đối với đứa con sinh ra từ việc mang thai hộ.

- Đối với người mang thai hộ:

Là người thân thích cùng hàng với bên vợ hoặc chồng nhờ mang thai hộ: Có nghĩa là người mang thai hộ chỉ có thể là chị em gái ruột, hoặc chị em gái họ, hoặc chị em dâu. Điều kiện này nhằm đảm bảo mục đích nhân đạo của việc mang thai hộ có thể được thực hiện một cách nghiêm túc nhất. Mặt khác, nếu giữa các bên có quan hệ thân thích cùng hàng với nhai (như anh chị em ruột, anh chị em họ) thì việc xác định tư cách chủ thể, thứ bậc trong gia đình vẫn phù hợp với phong tục tập quán của gia đình Việt Nam.

Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần: Điều kiện “đã từng sinh con” nhằm đảm bảo sự trải nghiệm trong việc thực hiện thiên chức của mình, cũng như, tạo ra-một tâm lý ổn định cho cả hai bên khi đón chờ đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ. Điều kiện chỉ được mang thai hộ một lần nhằm đảm bảo sức khoẻ sinh sản cho người mang thai hộ.

Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ: Điều kiện này nhằm đảm bảo sự an toàn nhất về sức khoẻ cho người mang thai hộ, cho thai nhi, cho trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ.

Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý: Điều kiện này cũng tương tự như đối với người nhờ mang thai hộ, giúp cho người mang thai hộ cân nhắc việc có nên thực hiện mang thai hộ người khác hay không.

- Điều kiện về ý chí của bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ:

Điều kiện về ý chí của các bên trong việc mang thai hộ là điều kiện tiên quyết để việc mang thai hộ được thực hiện một cách tốt nhất.

Đảm bảo sự tự nguyện giữa người mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ về việc mang thai hộ. Nếu người mang thai hộ đang tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng. Đây là điều kiện quan trọng để các bên có tâm lý thoải mái nhất, sẵn sàng đón nhận việc mang thai hộ. Chính điều này là yếu tố quan trọng để ràng buộc trách nhiệm của các bên đối với việc mang thai hộ và là C0f sở pháp lý để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện việc mang thai hộ. Bên cạnh đó, khi thực hiện việc mang thai hộ thì bên nhờ mang thai hộ, bên mang thai hộ và các chủ thể có liên quan phải tuân thủ các điều kiện về sinh con theo phưoug pháp khoa học do pháp luật quy định. Đây là điều kiện mang tính chất chuyên môn trong lĩnh vực y học nhằm đảm bảo sự an toàn cho người mang thai và đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ...

2.4 Nội dung thoả thuận giữa bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai

- Thông tin đầy đủ về điều kiện mang thai hộ đối với các bên trong việc mang thai hộ. Đây là điều kiện không thể thiếu trong nội dung thỏa thuận của các bên, là cơ sở để xác định văn bản thỏa thuận mang thai hộ có hiệu lực pháp lý hay không.

- Cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình sinh đẻ (từ khi bắt đầu thực hiện việc mang thai cho đến khi giao nhận con). Đây là điều kiện quan trọng để xác định trách nhiệm của các bên đối với đứa trẻ được sinh ra từ việc mang thai hộ. Đồng thời là cơ sở giải quyết những tranh chấp xảy ra liên quan đến việc mang thai hộ.

- Việc giải quyết hậu quả trong trường họp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để bảo đảm sức khoẻ sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con; việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan.

- Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

- Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý. Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của nguời có thẩm quyền của cơ sở y tế này. Đây được coi là một chứng thư pháp lý quan trọng để xác định tư cách là cha, là mẹ, là con khi thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết như khai sinh cho trẻ được sinh ra từ việc mang thai hộ (khi giấy chứng sinh không có tên của bên nhờ mang thai hộ), hoặc khi có tranh chấp giữa các bên về quyền và nghĩa vụ trong việc mang thai hộ,

2.5 Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ

Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế đảm bảo việc chăm sóc sinh sản theo quy định của Bộ Y tế. Tức là, bên nhờ mang thai hộ phải chi trả những khoản chi phí thực tế như phí thăm khám, thuốc thang.

Bên nhờ mang thai hộ không được từ chổi nhận con. Trong trường họp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng , cho con theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Toà án buộc bên mang thai hộ giao con. Đây là nghĩa vụ ràng buộc trách nhiệm của bên nhờ mang thai hộ với đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ. Đồng thời, nghĩa vụ này cũng giúp cho người mang thai hộ có tâm lý thoải mái trong suốt quá trình mang thai hộ, hoặc làm cho người niạng thai hộ không nảy sinh ý định chiếm đoạt đứa trẻ đó.

2.6 Quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ

Bên mang thai hộ có nghĩa vụ tuân thủ quy định về thăm khám, các quy định sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế; Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Đây được coi là điều kiện đảm bảo cho sức khoẻ của bên mang thai hộ, cũng như sự an toàn và phát triển của thai nhi.

Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ, phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Toà án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

2.7 Chính sách phúc lợi xã hội mà người mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng

Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân sổ và kế hoạch hóa gia đình.

>> Xem thêm:  Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình ?

Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

2.8 Hệ quả pháp lý của việc mang thai hộ

- Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra. Như vậy, căn cứ xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ dựa trên yếu tố huyết thống, thời kỳ hôn nhân của người nhờ mang thai hộ. Đứa trẻ này có thể thuộc trường hợp con được sinh, ra ưong thời kỳ hôn nhân nhưng sự kiện sinh đẻ không phải do người vợ thực hiện mà do người khác thực hiện.

- Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con giữa bên nhờ mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ (Khoản 2 Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); Quyền và nghĩa vụ giữa đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình người nhờ mang thai hộ (Khoản 4 Điểu 98 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014):

Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh từ thời điểm con được sinh ra; Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ. Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ và các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan.

Trong trường họp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Bộ luật Dân sự.

3. Thủ tục xác định quan hệ giữa cha mẹ và con

Theo Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thủ tục xác định cha, mẹ, con gồm thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp.

3.1 Thủ tục hành chính

- Thủ tục khai sinh cho con trong trường hợp cha mẹ có hôn nhân hợp pháp

>> Xem thêm:  Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện nuôi con nuôi ?

. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh là ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người mẹ hoặc nơi cư trú của người cha nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ hoặc nơi trẻ em sinh sống trên thực tế nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha*.

Thời hạn đăng ký khai sinh là sáu mươi ngày, người có trách nhiệm đăng ký khai sinh là cha, mẹ hoặc ông bà hoặc người thân thích khác. Nếu những người này không thể trực tiếp đi đăng ký khai sinh thì có thể ủy quyền bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực hợp lệ (Điều 13 - Nghị định số 158/2Ọ05/NĐ-CP và Điều 10 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP).

Người đi đăng ký khai sinh phải xuất trình những giấy tờ sau: Giấy chứng sinh do cơ sở y tế cấp, nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sợ y tế thì Giấy chứng sinh được thay thế bằng văn bản của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực; Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ đứa trẻ. Trong trường họp cán bộ tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ đứa trẻ thì người đi đăng ký khai sinh không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn (Khoản 1, Điêu 15 - Nghị định 158/2005/NĐ-CP ).

- Thủ tục khai sinh cho con khi cha mẹ không cỏ hôn nhân hợp pháp

Thủ tục đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú cũng tương tự như trường hợp khai sinh cho con trong giá thú. Chỉ có sự khác biệt là ngoài ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người mẹ có thẩm quyền đăng ký khai sinh còn là ủy ban nhân dân nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, hoặc nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi cư trú của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó nếu trẻ em đó bị bỏ rơi (Điều 13 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ). Phần họ tên cha trong giấy khai sinh của người con bị bỏ trống. Nếu tại thời điểm đăng ký khai sinh mà có người nhận con thì ủy ban nhân dân sẽ kết hợp giải quyết việc nhận con với đăng ký khai sinh (Khoản 3, Điều 15 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ). Đối với trẻ em bị bỏ rơi có thể không có giấy tờ gì, do đó, sau khi lập biên bản với những thông số cần thiết, ủy ban nhân dân phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm kiếm cha mẹ đẻ. Khi hết thời hạn luật định không tìm thấy cha mẹ đẻ thì người hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng đứa trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh (Điều 16 - Nghị định số i 58/2005/NĐ-CP ), phần khai họ tên cha mẹ, dân tộc của đứa trẻ phải để trống. Nếu có người nhận nuôi và có đủ điều kiện nhận nuôi thì ghi tên cha mẹ nuôi vào giấy khai sinh cho đứa trẻ nhưng trong sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ là cha mẹ nuôi và thông tỉn này được giữ bí mật. Như vậy, trong trường họp này, trẻ em vẫn được khai sinh nhưng lại chưa xác định được cha mẹ.

- Đăng ký nhận cha, mẹ, con

+ Thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con: Đối với việc nhận cha, mẹ, con trong nước do ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận cha, mẹ, con thực hiện. Đối với việc nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài do ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận cha, mẹ, con thực hiện (Điều 32 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP).

+ Điều kiện đăng ký nhận cha, mẹ, con': Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì điều kiện không thể thiếu trong việc đăng ký nhận cha, mẹ, con là phải có sự tự nguyện và không có tranh chấp. Bên được nhận là cha, mẹ, con phải còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con. Các bên phải trực tiếp làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con mà không được ủy quyền cho người khác. Đồng thời, “Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha” (Điều 90); “Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia” (Điều 91).

+ Thủ tục tiến hành đăng ký nhận cha, mẹ, con:

- Giấy tờ cần thiết cho việc nhận cha, mẹ, con bao gồm: tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con; Giấy khai sinh (bản chính . hoặc bản sao) của người con; Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con, mẹ con (nếu có). Đây là loại tài liệu không bắt buộc phải có khỉ đăng ký nhận cha, mẹ, con mà điều quan trọng nhất trong việc đăng ký nhận cha, mẹ, con là sự tự nguyện của các chủ thể trong mối quan hệ đó.

>> Xem thêm:  Phân tích yếu tố khách thể quan hệ pháp luật ?

Trong tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con nếu cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc là cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 34 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP).

Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn. Sau khi sinh con, người mẹ để con lại cho người cha và bỏ đi mà không xác định được địa chỉ thì khi người cha đăng ký nhận con, không cần phải có ý kiến của người mẹ. Khi đăng ký khai sinh, phần khai về người mẹ trong giấy khai sinh và sổ đăng ký khai sinh được ghi theo giấy chứng sinh, nếu không có giấy chứng sinh thì ghi theo lời khai của người cha, nếu người cha không khai các thông tin về người mẹ thì bỏ trống phần khai về người mẹ trong giấy khai sinh và sổ đàng ký khai sinh (Mục 4 – phần II - Thông tư số 01/2008/TT-BTP).

- Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ họp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp thì ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Nếu cần phải xác minh thêm thì thời hạn không kéo dài thêm quá 5 ngày (Khoản 2, Điều 34 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ).

3.2 Thủ tục xác định cha, mẹ, con tại Toà án

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tõà án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này” (Điều 101). Trường hợp theo quy định tại Điều 92 là khi người đang có yêu cầu xác định cha, mẹ, con cho mình thì bị chết, những người thân thích của họ sẽ được yêu cầu xác định cha, mẹ, con cho người đó.

+ Quyền khởi kiện

- Người hiện là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu xác định người đó không phải là con của mình.

- Người đang không phải là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu xác định người đó là con của mình.

- Người đang không phải là con của một người có quyền yêu cầu xác định người đó là cha, mẹ của mình.

- Nếu những chủ thể trên chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự thì quyền khởi kiện sẽ thuộc về người giám hộ của họ hoặc một số cơ quan, tổ chức khác.

>> Xem thêm:  Quan hệ pháp luật là gì ? Đặc điểm, phân loại quan hệ pháp luật

+ Chứng cứ chứng minh trong vụ án xác định lại quan hệ cha mẹ và con khi cha mẹ có hôn nhăn hợp pháp

Người có quyền khởi kiện phải nộp đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 164 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, kèm theo đó là những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự:

“Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp...” - Điều 79 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến pháp luật hôn nhân gia đình về chấm dứt hôn nhân giữa vợ và chồng, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân tích yếu tố chủ thể quan hệ pháp luật ?