Quy tắc xử sự được thể hiện thông qua các quyền hay nghĩa vụ pháp lí, tức là việc được làm hay không phải làm, phải làm hay không được làm, được quy định trong nội dung của quy phạm pháp luật. Có thể coi quy phạm pháp luật như là đơn vị nhỏ nhất và cơ bản nhất của pháp luật để tác động, xác lập khuôn mẫu xử sự cho các quan hệ xã hội. Thông qua quy phạm pháp luật, các chủ thể biết phải hành xử như thế nào; nhờ đó pháp luật đạt được mục tiêu điều chỉnh của mình. Mỗi ngành luật đều là tập hợp của các quy phạm pháp luật được đặt ra để tác động lên đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó.

Như vậy, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp là các quy tắc xử sự chung do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp, ví dụ quy phạm: “Tơ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”, “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt” hay “Quốc hội là... cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”?

Cũng giống như các quy phạm pháp luật khác, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp không đồng nghĩa với các điều, khoản trong văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp. Một điều, khoản trong vãn bản có thể chứa một hoặc một số quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp, ví dụ Điều 87 Hiến pháp năm 2013 chứa đựng tới 4 quy phạm pháp luật hay khoản 1 Điều 88 Hiến pháp năm 2013 chứa đựng tới 3 quy phạm pháp luật.

So với các quy phạm pháp luật khác, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp có một số đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, các quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp thường là các quy phạm pháp luật nguyên tắc hay còn gọi là quy phạm pháp luật tuyên bố (declaratỉon rule)) Các quy phạm pháp luật nguyên tắc chỉ đưa ra quy tắc xử sự mang tính chất định hướng, khái quát mà không quy định những quyền hay nghĩa vụ cụ thể để các chủ thể có thể căn cứ vào đó thực hiện các hành vi cụ thể của mình. Trong khi đó, quy phạm pháp luật của các ngành luật khác chủ yếu chứa đựng các quyền và nghĩa vụ pháp lí cụ thể. Trong một chỉnh thể thống nhất của hệ thống pháp luật, các quy phạm pháp luật mang tính nguyên tắc của Luật hiến pháp đóng vai trò là cơ sở ban hành các quy phạm pháp luật cụ thể của các ngành luật khác. Ví dụ, với quy định “À/ọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định” được quy định tại Điều 47 Hiến pháp năm 2013, người dân sẽ không thể biết cụ thể mình sẽ phải nộp các loại thuế gì, trong trường hợp nào và với mức thuế suất là bao nhiêu... Quy phạm này chỉ đưa ra một quy tắc xử sự mang tính nguyên tắc về nghĩa vụ nộp thuế của mọi người. Căn cứ vào đó, pháp luật về thuế quy định cụ thể các loại thuế, mức thuế suất và che tài xử lí vi phạm về thuế.

Quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp có đặc điểm này là vì, như đã đề cập, đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp là các quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất, đồng nghĩa với việc đây là các quan hệ mang tính chất khái quát và là nền tảng để hình thành các mối quan hệ cụ thể trong xã hội. Vì vậy, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp cũng chỉ có thể điều chỉnh ở tầm nguyên tắc, khái quát và do đó mang tính chất tuyên bố hơn là quy định cụ thể.

Tuy nhiên, chỉ phần lớn mà không phải tất cả các quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp đều mang tính nguyên tắc. Trong phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp cũng có những quan hệ xã hội cụ thể mà quy phạm pháp luật tương ứng cùa ngành luật hiến pháp có thể điều chỉnh bằng cách quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lí cụ thể. Điều này thể hiện rõ nét trong lĩnh vực bầu cử, ví dụ quy phạm: “Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội”...

Thứ hai, phần lớn các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp thường không có đủ cơ cấu ba bộ phận.

Ở góc độ lí luận phổ quát, mỗi quy phạm pháp luật thường có cơ cấu ba bộ phận: giả định, quy định và chế tài. Có thể hiểu một cách ngan gọn: phần giả định chỉ ra bối cảnh của quan hệ xã hội mà các bên chủ thể tham gia phải xử sự theo quy định của pháp luật; phần quy định chỉ ra nội dung các bên phải xử sự trong mối quan hệ xã hội; phần chế tài đưa ra câc hậu quả pháp lí bất lợi nếu các bên chủ thể vi phạm nội dung quy định mà mình phải tuân thủ. Sự họp thành của ba bộ phận này tạo nên một quy phạm pháp luật tiêu chuẩn, bởi vì nó vừa chỉ ra các bên phải xử sự như thế nào, vừa thể hiện được biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Nói cách khác, với cơ cấu ba bộ phận quy phạm pháp luật bảo đảm cho pháp luật có được khả năng điều chỉnh, uốn nắn các quan hệ xã hội.

Không giống với các quy phạm pháp luật tiêu chuẩn, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp thường chỉ có hai bộ phận là giả định và quy định. Phần lớn các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp thường chỉ có phần chỉ ra bối cảnh các bên cần xử sự theo pháp luật và nội dung xử sự mà các bên phải tuân thủ.

>> Xem thêm:  Luật hiến pháp là gì ? Tìm hiểu quy định về luật hiến pháp

Ví dụ: “nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sổng trên đất nước Việt Nam”? “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” hay “Chính phủ là cơ quan hành chỉnh nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”? Có thể thấy phần chế tài không hiện diện trong các quy phạm pháp luật trên.

Có hai lí do chủ yếu làm cho phần lớn quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp chỉ có bộ phận giả định và quy định. Thứ nhất, như đã đề cập, đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP là các quan hệ cơ bản nhất, quan trọng nhất và mang tính khái quát, dẫn tới nội dung quy định của các quy phạm cũng mang tính nguyên tắc, khái quát. Nội dung quy định càng khái quát, càng mang tính nguyên tắc thì hành vi vi phạm quy định càng có nhiều hình thái và mức độ khác nhau, dẫn tới nhiều hình thức chế tài có thể áp dụng đối với các vi phạm. Ví dụ, quy phạm “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” là quy phạm mang tính khái quát cao. Hành vi vi phạm đối với quy phạm này có thể là hành vi vô ý gây tai nạn làm ảnh hưởng sức khoẻ, hành vi thoá mạ, sỉ nhục người khác, hay cũng có thể là hành vi cố ý tấn công, gây thương tích... Chế tài đối với các vi phạm này có thể là bồi thường thiệt hại sức khoẻ, xin lỗi bắt buộc hay thậm chí chế tài hình sự. Trong quy phạm pháp luật trên đây không thể và cũng không nên quy định hết các vĩ phạm cụ thể cũng như các hình thức chế tài tương ứng. Cũng có thể nói rằng, quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP đã “gửi” chế tài vào các ngành luật khác khi các ngành luật đó đưa ra các quy phạm pháp luật cụ thể hóa quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP. Thứ hai, trong một số trường hợp, các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp đưa ra các quy định cụ thể, song đó lại là những quy định trao quyền cho một chủ thể nào đó và do đó cũng không xác định được vi phạm đối với việc thực hiện quyền, ví dụ quy phạm “Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hộỉ” hay quy phạm “Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của ủy ban thường vụ Quốc hội, phiên họp của Chính phủ”?

Có thế nói, ở góc độ nào đó đặc điểm thứ hai của quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP xuất phát từ đặc điểm thứ nhất. Nếu đặc điểm thứ nhất là đặc điểm về nội dung thì đặc điểm này có thể được coi là đặc điểm về hình thức.

Mặc dù đây là đặc điểm quan trọng của quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp song không phải không có quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP có đủ cơ cấu ba bộ phận, ví dụ quy định: “Đạị biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dãn bãi nhiệm khỉ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân”) Tuy nhiên, những quy định như vậy là khá hiếm. Phần lớn các quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP thường không có phần chế tài.

Luật Minh KHuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Phân tích nguồn của ngành luật hiến pháp ?