1. Quy phạm pháp luật hiến pháp là gì?

Quy tắc xử sự được thể hiện thông qua các quyền hay nghĩa vụ pháp lí, tức là việc được làm hay không phải làm, phải làm hay không được làm, được quy định trong nội dung của quy phạm pháp luật. Có thể coi quy phạm pháp luật như là đơn vị nhỏ nhất và cơ bản nhất của pháp luật để tác động, xác lập khuôn mẫu xử sự cho các quan hệ xã hội. Thông qua quy phạm pháp luật, các chủ thể biết phải hành xử như thế nào; nhờ đó pháp luật đạt được mục tiêu điều chỉnh của mình. Mỗi ngành luật đều là tập hợp của các quy phạm pháp luật được đặt ra để tác động lên đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó.

Như vậy, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp là các quy tắc xử sự chung do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp, ví dụ quy phạm: “Tơ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”, “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt” hay “Quốc hội là... cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”?

Cũng giống như các quy phạm pháp luật khác, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp không đồng nghĩa với các điều, khoản trong văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp. Một điều, khoản trong vãn bản có thể chứa một hoặc một số quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp, ví dụ Điều 87 Hiến pháp năm 2013 chứa đựng tới 4 quy phạm pháp luật hay khoản 1 Điều 88 Hiến pháp năm 2013 chứa đựng tới 3 quy phạm pháp luật.

2. Đặc trưng của quy phạm pháp luật hiến pháp

So với các quy phạm pháp luật khác, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp có một số đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, các quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp thường là các quy phạm pháp luật nguyên tắc hay còn gọi là quy phạm pháp luật tuyên bố (declaratỉon rule)) Các quy phạm pháp luật nguyên tắc chỉ đưa ra quy tắc xử sự mang tính chất định hướng, khái quát mà không quy định những quyền hay nghĩa vụ cụ thể để các chủ thể có thể căn cứ vào đó thực hiện các hành vi cụ thể của mình. Trong khi đó, quy phạm pháp luật của các ngành luật khác chủ yếu chứa đựng các quyền và nghĩa vụ pháp lí cụ thể. Trong một chỉnh thể thống nhất của hệ thống pháp luật, các quy phạm pháp luật mang tính nguyên tắc của Luật hiến pháp đóng vai trò là cơ sở ban hành các quy phạm pháp luật cụ thể của các ngành luật khác. Ví dụ, với quy định “À/ọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định” được quy định tại Điều 47 Hiến pháp năm 2013, người dân sẽ không thể biết cụ thể mình sẽ phải nộp các loại thuế gì, trong trường hợp nào và với mức thuế suất là bao nhiêu... Quy phạm này chỉ đưa ra một quy tắc xử sự mang tính nguyên tắc về nghĩa vụ nộp thuế của mọi người. Căn cứ vào đó, pháp luật về thuế quy định cụ thể các loại thuế, mức thuế suất và che tài xử lí vi phạm về thuế.

Quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp có đặc điểm này là vì, như đã đề cập, đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp là các quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất, đồng nghĩa với việc đây là các quan hệ mang tính chất khái quát và là nền tảng để hình thành các mối quan hệ cụ thể trong xã hội. Vì vậy, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp cũng chỉ có thể điều chỉnh ở tầm nguyên tắc, khái quát và do đó mang tính chất tuyên bố hơn là quy định cụ thể.

Tuy nhiên, chỉ phần lớn mà không phải tất cả các quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp đều mang tính nguyên tắc. Trong phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp cũng có những quan hệ xã hội cụ thể mà quy phạm pháp luật tương ứng cùa ngành luật hiến pháp có thể điều chỉnh bằng cách quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lí cụ thể. Điều này thể hiện rõ nét trong lĩnh vực bầu cử, ví dụ quy phạm: “Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội”...

Thứ hai, phần lớn các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp thường không có đủ cơ cấu ba bộ phận.

>> Xem thêm:  Phân tích vị trí chủ tịch nước qua các bản Hiến pháp của Việt Nam ?

Ở góc độ lí luận phổ quát, mỗi quy phạm pháp luật thường có cơ cấu ba bộ phận: giả định, quy định và chế tài. Có thể hiểu một cách ngan gọn: phần giả định chỉ ra bối cảnh của quan hệ xã hội mà các bên chủ thể tham gia phải xử sự theo quy định của pháp luật; phần quy định chỉ ra nội dung các bên phải xử sự trong mối quan hệ xã hội; phần chế tài đưa ra câc hậu quả pháp lí bất lợi nếu các bên chủ thể vi phạm nội dung quy định mà mình phải tuân thủ. Sự họp thành của ba bộ phận này tạo nên một quy phạm pháp luật tiêu chuẩn, bởi vì nó vừa chỉ ra các bên phải xử sự như thế nào, vừa thể hiện được biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Nói cách khác, với cơ cấu ba bộ phận quy phạm pháp luật bảo đảm cho pháp luật có được khả năng điều chỉnh, uốn nắn các quan hệ xã hội.

Không giống với các quy phạm pháp luật tiêu chuẩn, quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp thường chỉ có hai bộ phận là giả định và quy định. Phần lớn các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp thường chỉ có phần chỉ ra bối cảnh các bên cần xử sự theo pháp luật và nội dung xử sự mà các bên phải tuân thủ.

Ví dụ: “nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sổng trên đất nước Việt Nam”? “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” hay “Chính phủ là cơ quan hành chỉnh nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”? Có thể thấy phần chế tài không hiện diện trong các quy phạm pháp luật trên.

Có hai lí do chủ yếu làm cho phần lớn quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp chỉ có bộ phận giả định và quy định. Thứ nhất, như đã đề cập, đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP là các quan hệ cơ bản nhất, quan trọng nhất và mang tính khái quát, dẫn tới nội dung quy định của các quy phạm cũng mang tính nguyên tắc, khái quát. Nội dung quy định càng khái quát, càng mang tính nguyên tắc thì hành vi vi phạm quy định càng có nhiều hình thái và mức độ khác nhau, dẫn tới nhiều hình thức chế tài có thể áp dụng đối với các vi phạm. Ví dụ, quy phạm “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” là quy phạm mang tính khái quát cao. Hành vi vi phạm đối với quy phạm này có thể là hành vi vô ý gây tai nạn làm ảnh hưởng sức khoẻ, hành vi thoá mạ, sỉ nhục người khác, hay cũng có thể là hành vi cố ý tấn công, gây thương tích... Chế tài đối với các vi phạm này có thể là bồi thường thiệt hại sức khoẻ, xin lỗi bắt buộc hay thậm chí chế tài hình sự. Trong quy phạm pháp luật trên đây không thể và cũng không nên quy định hết các vĩ phạm cụ thể cũng như các hình thức chế tài tương ứng. Cũng có thể nói rằng, quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP đã “gửi” chế tài vào các ngành luật khác khi các ngành luật đó đưa ra các quy phạm pháp luật cụ thể hóa quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP. Thứ hai, trong một số trường hợp, các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp đưa ra các quy định cụ thể, song đó lại là những quy định trao quyền cho một chủ thể nào đó và do đó cũng không xác định được vi phạm đối với việc thực hiện quyền, ví dụ quy phạm “Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hộỉ” hay quy phạm “Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của ủy ban thường vụ Quốc hội, phiên họp của Chính phủ”?

Có thế nói, ở góc độ nào đó đặc điểm thứ hai của quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP xuất phát từ đặc điểm thứ nhất. Nếu đặc điểm thứ nhất là đặc điểm về nội dung thì đặc điểm này có thể được coi là đặc điểm về hình thức.

Mặc dù đây là đặc điểm quan trọng của quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp song không phải không có quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP có đủ cơ cấu ba bộ phận, ví dụ quy định: “Đạị biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dãn bãi nhiệm khỉ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân”) Tuy nhiên, những quy định như vậy là khá hiếm. Phần lớn các quy phạm pháp luật của ngành LUẬT HIẾN PHÁP thường không có phần chế tài.

3. Phân biệt quy phạm hành chính với quy phạm luật hiến pháp

QPPL hành chính là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.

QPPL hiến pháp là những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất gắn với việc xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa – xã hội, quốc phòng và an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Như vậy, qua hai khái niệm trên thì ta có thể thấy được sự khác biệt giữa QPPL hiến pháp với QPPL hành chính. Và nó được thể hiện qua các yếu tố sau.

>> Xem thêm:  Lịch sử lập hiến của Pháp và các cuộc cách mạng tiêu biểu ?

3.1. Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của QPPL hiến pháp là những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất gắn liền với việc các định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, an ninh quốc phòng ... tạo thành nền tảng của chế độ nhà nước và xã hội, có liên quan đến việc thực hiện quyền lực nhà nước. Còn QPPL hành chính chỉ điều chỉnh những mối quan hệ quản lý hình thành trong quá trình hoạt động chấp hành - điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước. QPPL hành chính đi sâu, tập trung điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước, còn QPPL Hiến pháp điều chỉnh bao quát các mối quan hệ cơ bản nhất nảy sinh trong đời sống xã hội (Ví dụ : những quy định của Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ của công dân). Như vậy, so với QPPL Hành chính thì QPPL Hiến pháp có đối tượng điều chỉnh rộng hơn.

3.2. Chủ thể ban hành

QPPL hiến pháp chỉ do Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành (Điều 83 Hiến pháp 1992, bổ sung và sửa đổi năm 2001 quy định: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp), như vậy có thể thấy QPPL hiến pháp chỉ do một chủ thể duy nhất là Quốc hội ban hành. QPPL hành chính chủ yếu là do cơ hành chính Nhà nước ban hành, ngoài ra trong trường hợp cần thiết thì cơ quan quyền lực cũng có quyền ban hành. Như vậy ban hành các QPPL hành chính có thể do nhiều chủ thể khác nhau ban hành.

4. Nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp Việt Nam bao gồm:

- Hiến pháp: đây là luật cơ bản của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, do Quốc hội ban hành và là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam.

- Các luật điều chỉnh những quan hệ xã hội của ngành ngành Luật hiến pháp: Luật là loại văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành và có hiệu lực chỉ sau Hiến pháp. Hệ thống pháp luật Việt Nam có rất nhiều luật điều chỉnh các lĩnh vực khác nhau. Những luật nào điều chỉnh các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của ngành ngành Luật hiến pháp thì sẽ là nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp. Nhũng luật này bao gồm: Luật tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật tổ chức TAND năm 2014, Luật tổ chức VKSND năm 2014, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật báo chí năm 2016, Luật bình đẳng giới năm 2006 V.V..

Luật là loại nguồn phổ biến nhất của ngành ngành Luật hiến pháp xét về mặt số lượng. Tất nhiên, các luật không điều chỉnh các lĩnh vực của ngành Luật hiến pháp thì không phải là nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp, ví dụ Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Bộ luật lao động năm 2019 V.V..

- Một số pháp lệnh điều chỉnh những quan hệ xã hội của ngành ngành Luật hiến pháp: Pháp lệnh là loại văn bản quy phạm pháp luật do UBTVQH, cơ quan thường trực của Quốc hội ban hành. Loại văn bản này có hiệu lực pháp lí sau luật của Quốc hội. Nếu pháp lệnh điều chỉnh các lĩnh vực của ngành ngành Luật hiến pháp thì nó sẽ trở thành nguồn của ngành Luật hiến pháp, ví dụ Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004. Tuy nhiên, số lượng các pháp lệnh là nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp rất ít do vai trò làm luật của Quốc hội ngày càng tăng lên.

- Một số nghị quyết của Quốc hội và UBTVQH điều chỉnh những quan hệ xã hội của ngành ngành Luật hiến pháp: Cả Quốc hội và UBTVQH đều ban hành nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật. Tất nhiên, các nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực pháp lí ngang với luật và nghị quyết của UBTVQH có hiệu lực pháp lí ngang với pháp lệnh. Cũng giống như pháp lệnh, có tương đối hiếm các nghị quyết là nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp.

>> Xem thêm:  Lịch sử lập hiến của Pháp đã trải qua 5 chế độ cộng hòa ?

- Một số văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc HĐND cấp tỉnh ban hành: Đây là những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí dưới pháp lệnh. Tuy nhiên, số lượng các văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật của ngành ngành Luật hiến pháp thuộc loại này cũng rất ít, ví dụ nghị định của Chính phủ quy định về quy chế làm việc của Chính phủ hay các nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành quy chế kì họp của hội đồng nhân dân.

5. Đặc điểm nguồn ngành Luật hiến pháp

Nhìn một cách khái quát, có thể thấy nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp đều là các văn bản quy phạm pháp luật, tức là văn bản có chứa đựng các quy phạm pháp luật, đối lập với văn bản áp dụng pháp luật, tức là văn bản quyết định về hậu quả pháp lí trong một trường họp cụ thể. Tuy nhiên, đây không phải đặc điểm riêng của nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp. Nhiều ngành luật khác của Việt Nam như Luật hành chính, Luật dân sự, Luật hình sự... cũng có đặc điểm này.

Thứ hai, Hiến pháp là nguồn chủ yếu của ngành ngành Luật hiến pháp và toàn bộ Hiến pháp là nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp. Đây là đặc điểm riêng của nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp. Các ngành luật khác của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng lấy Hiến pháp làm nguồn vì có chứa đựng các quy phạm mang tính nguyên tắc của ngành luật đó, ví dụ ngành luật dân sự, luật hình sự... Tuy nhiên nguồn chủ yếu của các ngành luật đó thường là các luật tưong ứng. Các ngành luật khác cũng không lấy toàn bộ điều khoản của Hiến pháp làm nguồn mà chỉ những điều khoản có chứa các quy định liên quan.

Thứ ba, tuyệt đại đa số nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đó là Hiến pháp và các luật. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngoài Hiến pháp và luật còn có nhiều loại hình văn bản quy phạm pháp luật khác như nghị định, nghị quyết, quyết định, thông tư. Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật này đều có hiệu lực pháp lí thấp hom Hiến pháp và luật. Trong phạm vi nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp, số lượng các văn bản thuộc loại này rất ít. Loại nguồn chủ yếu của ngành ngành Luật hiến pháp là rất nhiều luật khác nhau điều chỉnh các lĩnh vực có liên quan. Trong quá trình học ngành Luật hiến pháp, người học sẽ nghiên cứu chủ yếu loại hình văn bản này. Đối với các ngành luật khác thường chỉ có một hoặc một số luật là nguồn chủ yếu, ví dụ ngành luật dân sự có Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ; ngành luật hình sự có Bộ luật hình sự; ngành luật hành chính có Luật xử lí vi phạm hành chính, Luật khiếu nại, Luật tố cáo...; ngành luật thương mại có Luật thương mại, Luật doanh nghiệp V.V..

Luật Minh KHuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Thuyết nhân trị là gì ? Tìm hiểu về học thuyết nhân trị

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quy phạm pháp luật hiến pháp là gì?

Trả lời:

Quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp là các quy tắc xử sự chung do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp

Câu hỏi: Đặc trưng của quy phạm pháp luật hiến pháp

Trả lời:

Thứ nhất, các quy phạm pháp luật của ngành Luật hiến pháp thường là các quy phạm pháp luật nguyên tắc hay còn gọi là quy phạm pháp luật tuyên bố (declaratỉon rule)) Các quy phạm pháp luật nguyên tắc chỉ đưa ra quy tắc xử sự mang tính chất định hướng, khái quát mà không quy định những quyền hay nghĩa vụ cụ thể để các chủ thể có thể căn cứ vào đó thực hiện các hành vi cụ thể của mình. Trong khi đó, quy phạm pháp luật của các ngành luật khác chủ yếu chứa đựng các quyền và nghĩa vụ pháp lí cụ thể. Trong một chỉnh thể thống nhất của hệ thống pháp luật, các quy phạm pháp luật mang tính nguyên tắc của Luật hiến pháp đóng vai trò là cơ sở ban hành các quy phạm pháp luật cụ thể của các ngành luật khác. Ví dụ, với quy định “À/ọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định” được quy định tại Điều 47 Hiến pháp năm 2013, người dân sẽ không thể biết cụ thể mình sẽ phải nộp các loại thuế gì, trong trường hợp nào và với mức thuế suất là bao nhiêu... Quy phạm này chỉ đưa ra một quy tắc xử sự mang tính nguyên tắc về nghĩa vụ nộp thuế của mọi người. Căn cứ vào đó, pháp luật về thuế quy định cụ thể các loại thuế, mức thuế suất và che tài xử lí vi phạm về thuế.

Thứ hai, phần lớn các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp thường không có đủ cơ cấu ba bộ phận.

Ở góc độ lí luận phổ quát, mỗi quy phạm pháp luật thường có cơ cấu ba bộ phận: giả định, quy định và chế tài. Có thể hiểu một cách ngan gọn: phần giả định chỉ ra bối cảnh của quan hệ xã hội mà các bên chủ thể tham gia phải xử sự theo quy định của pháp luật; phần quy định chỉ ra nội dung các bên phải xử sự trong mối quan hệ xã hội; phần chế tài đưa ra câc hậu quả pháp lí bất lợi nếu các bên chủ thể vi phạm nội dung quy định mà mình phải tuân thủ. Sự họp thành của ba bộ phận này tạo nên một quy phạm pháp luật tiêu chuẩn, bởi vì nó vừa chỉ ra các bên phải xử sự như thế nào, vừa thể hiện được biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Nói cách khác, với cơ cấu ba bộ phận quy phạm pháp luật bảo đảm cho pháp luật có được khả năng điều chỉnh, uốn nắn các quan hệ xã hội.

 

Câu hỏi: Đặc điểm nguồn ngành Luật hiến pháp

Trả lời:

Thứ nhất, nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp đều là các văn bản quy phạm pháp luật, tức là văn bản có chứa đựng các quy phạm pháp luật, đối lập với văn bản áp dụng pháp luật, tức là văn bản quyết định về hậu quả pháp lí trong một trường họp cụ thể. Tuy nhiên, đây không phải đặc điểm riêng của nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp. Nhiều ngành luật khác của Việt Nam như Luật hành chính, Luật dân sự, Luật hình sự... cũng có đặc điểm này.

Thứ hai, Hiến pháp là nguồn chủ yếu của ngành ngành Luật hiến pháp và toàn bộ Hiến pháp là nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp. Đây là đặc điểm riêng của nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp. Các ngành luật khác của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng lấy Hiến pháp làm nguồn vì có chứa đựng các quy phạm mang tính nguyên tắc của ngành luật đó, ví dụ ngành luật dân sự, luật hình sự... Tuy nhiên nguồn chủ yếu của các ngành luật đó thường là các luật tưong ứng. Các ngành luật khác cũng không lấy toàn bộ điều khoản của Hiến pháp làm nguồn mà chỉ những điều khoản có chứa các quy định liên quan.

Thứ ba, tuyệt đại đa số nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đó là Hiến pháp và các luật. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngoài Hiến pháp và luật còn có nhiều loại hình văn bản quy phạm pháp luật khác như nghị định, nghị quyết, quyết định, thông tư. Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật này đều có hiệu lực pháp lí thấp hom Hiến pháp và luật. Trong phạm vi nguồn của ngành ngành Luật hiến pháp, số lượng các văn bản thuộc loại này rất ít. Loại nguồn chủ yếu của ngành ngành Luật hiến pháp là rất nhiều luật khác nhau điều chỉnh các lĩnh vực có liên quan. Trong quá trình học ngành Luật hiến pháp, người học sẽ nghiên cứu chủ yếu loại hình văn bản này. Đối với các ngành luật khác thường chỉ có một hoặc một số luật là nguồn chủ yếu, ví dụ ngành luật dân sự có Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ; ngành luật hình sự có Bộ luật hình sự; ngành luật hành chính có Luật xử lí vi phạm hành chính, Luật khiếu nại, Luật tố cáo...; ngành luật thương mại có Luật thương mại, Luật doanh nghiệp V.V..