Luật sư tư vấn:

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được ban hành khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự bao gồm:

- Không có sự việc phạm tội:

Sự việc phạm tội là sự việc do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra. Khi có sự việc phạm tội, cơ quan có thẩm quyền phải khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra làm rõ tội phạm và người phạm tội. Trường hợp không có sự việc phạm tội, việc khởi tố vụ án hình sự không mang lại ý nghĩa nào. Do đó, khi xác định không có sự việc phạm tội thì không được khởi tố vụ án hình sự. Thông thường, có hai trường hợp xác định không có sự việc phạm tội: thứ nhất, có sự việc xảy ra trong thực tế nhưng không phải do hành vi nguy hiểm cho xẵ hội gây ra thì không phải là sự việc phạm tội; thứ hai, không có sự việc nào xảy ra mà nguồn tin chỉ là giả tạo hoặc vu khống... Khi xác định không có sự việc phạm tội thì không được khởi tố vụ án hình sự.

- Hành vi không cấu thành tội phạm:

Cấu thành tội phạm cụ thể là tổng hợp những dấu hiệu cơ bản, điển hình nhất được quy định trong BLHS đặc trưng cho một tội phạm nhất định.

Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi hành vi đó có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS. Nếu hành vi không có hoặc có nhưng không đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm nào thì hành vi ấy không phải là tội phạm và người đã thực hiện hành vĩ đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định của BLHS năm 2015 thi một hành vi về hình thức tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lí bằng các biện pháp khác; một hành vi đã có những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội như sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, rủi ro trong khi nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kĩ thuật và công nghệ; thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cùa cấp trên... thì không bị khởi tố về hình sự.

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Đến độ tuổi nhất định thì con người mới có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mới điều khiển được hành vi của mình. Vì thế, chỉ đến độ tuổi đó con người mới phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra. Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điêu 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250,251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật:

>> Xem thêm:  Những trường hợp nào phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát giải quyết ?

Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Toà án ra bản án nhân danh Nhà nước để quyết định việc bị cáo phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Neu có căn cứ để đình chỉ vụ án, toà án ra quyết định đình chỉ vụ án. Khi toà án đã ra bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án đối với sự việc nào đó thì có nghĩa sự việc đó đã được giải quyết và không ai có quyền khởi tố lại sự việc đã được giải quyết. Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định: Bản án, quyết định của toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Đồng thời Điều 31 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

Vì vậy, khi người có hành vi phạm tội mà toà án đã ra bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án đó. Nếu có lí do xác định bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật của toà án không đúng thì người có thẩm quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn pháp luật quy định được tính kể từ ngày xảy ra tội phạm mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Một người đã thực hiện tội phạm bình thường thì người đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, có trường họp vì lí do nào đó sau một thời gian dài, có khi rất lâu, người phạm tội chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dài hay ngắn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 BLHS năm 2015 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là năm năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; mười năm đối với tội phạm nghiêm trọng; mười lăm năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; hai mưod năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nếu trong thời hạn trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới. Nếu người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời gian ưốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ. BLHS năm 2015 quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm sau đây: các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 của BLHS; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của BLHS nên không áp dụng căn cứ không khởi tố vụ án hình sự vì “đã hết thời hiệu truy cứu frách nhiệm hình sự” đối với các loại tội phạm trên. Đối với các tội phạm khác nếu qua thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 27 BLHS năm 2015 thì không khởi tố vụ án hình sự nữa.

- Tội phạm được đại xá:

Việc đại xá do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước quyết định đối với những tội phạm nhất định.

Văn bản đại xá chỉ có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội được nêu trong văn bản và đã xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá. Đối với những tội phạm được đại xá xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án.

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác:

Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân khác tôn họng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Khi một người phạm tội thì những biện pháp tác động bình thường của xã hội đối với người ấy không còn hiệu quả, vì thế phải áp dụng hình phạt đối với họ mới làm họ nhận thức được sâu sắc tính chất nguy hiểm của hành vi và chịu hồi tâm sửa chữa để trở thành người tốt. Tuy nhiên cũng có trường hợp vì lí do nào đó, sau khi thực hiện tội phạm, người phạm tội đã chết Trường hợp này nếu truy cứu trách nhiệm hình sự để áp dụng một hình phạt đối với họ sẽ không mang lại ý nghĩa nào. Vì thế, khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, các cơ quan có thẩm quyền không khởi tố vụ án hình sự, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

>> Xem thêm:  Quy định mới về kháng nghị theo thủ tục tái thẩm ? Xét xử theo thủ tục tái thẩm vụ án hình sự ?

- Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

Đây là những vụ việc tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng do không có yêu cầu khởi tố của bị hại quy định tại Điều 155 BLTTHS năm 2015 nên cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự.

Khi có một trong các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố gĩác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lí do. Ví dụ: Khi nhận được tố giác của công dân, sau khi kiểm tra, xác minh thấy có một trong những căn cứ không được khởi tố thì cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp do đánh giá sai, cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, sau đó mới phát hiện có căn cứ không được khởi tố thì cơ quan điều tra phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án của mình. Nếu xét thấy cần xử lí bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Tuỳ từng trường hợp cụ thể, sau khi ra quyết định không khởi tố vụ án hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố, cơ quan đã ra quyết định gửi hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết bằng biện pháp hành chính, xử lí kỉ luật, trách nhiệm dân sự... Cơ quan đã ra quyết định phải thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm biết rõ lí do. Những người này có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo Chương XXXIII “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự” của BLTTHS năm 2015.

Sau khi ra quyết định, trong thời hạn 24 giờ, cơ quan đã ra quyết định phải gửi quyết định không khởi tố, quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu liên quan đến viện kiểm sát cùng cấp hoặc viện kiểm sát có thẩm quyền để viện kiểm sát kiểm sát việc ra quyết định. Nếu thấy việc ra quyết định không có căn cứ thì viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điêu tra và ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về khi nào sẽ không khởi tố vụ án hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Những quy định mới nhất về thi hành bản án, quyết định của tòa án hình sự ?