1. Phân tích ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam?

Chuyên đề 1: Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam nói chung và tại Tỉnh Nam Định nói riêng.

PV: Xin luật sư cho biết khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam được hiểu như thế nào? Tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam?

Luật sư Lê Minh Trường trả lời: Theo quy định tai Khoả 1 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.

Như đã nói ở trên thì có thể nhận thấy quyền sở hữu trí tuệ là kết quả của quá trình sáng tạo, đầu tư trí tuệ, công sứ, tiền bạc của cá nhân, tổ chức. Hoạt động sáng tạo trí tuệ mong muốn đạt được những lợi ích nhất định. Bằng việc bảo hộ tài sản trí tuệ sẽ khuyến khíc và hỗ trợ phát triển sản phẩm, ngành nghề kinh doanh. Quản lý tốt vấn đề sở hữu trí tuệ là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp, quan trọng quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân.

Nếu không có sự bảo hộ quyền sáng chế, công ty như nêu trên sẽ đối mặt với những thiệt hại về mặt kinh tế do hành vi “chiếm đoạt” của các đối thủ cạnh tranh. Nếu không có sự bảo hộ nhãn hiệu, công ty không thể xây dựng được “uy tín thương hiệu” mà hy vọng là có thể tồn tại vượt ra khỏi thời gian bảo hộ sáng chế…

Nếu không được bảo hộ theo các điều ước quốc tế và luật sở hữu trí tuệ thì các công ty dược như trên sẽ không nỗ lực thực nghiệm trong việc tìm kiếm các sản phẩm viễn thông kết nối mọi người gần nhau hơn. Như bạn có thể thấy trong ví dụ ngắn gọn này, nếu không có sự bảo hộ được nêu ở trên mọi người trên thế giới có lẽ đã không gần gũi với nhau dù ở cách xa cả nửa địa cầu như hiện nay…

Quyền sở hữu trí tuệ cũng có thể giúp mở rộng phạm vi bảo hộ những đối tượng khác như sự biểu hiện văn hóa bất thành văn và không được ghi âm của nhiều nước đang phát triển mà thường được biết đến dưới tên văn hóa dân gian. Với sự bảo hộ như vậy, những đối tượng này có thể được khai thác vì lợi ích của quốc gia có nền văn hóa đó.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Thật bất công nếu một người bỏ vốn đầu tư, nghiên cứu tạo ra các sản phẩm mới cũng như đầu tư cho quảng cáo, khuyến mại để người tiêu dùng các sản phẩm mới cũng như đầu tư cho quảng cáo, khuyến mại để tiêu dùng biết và mua sản phẩm trong khi một người khác không phải tốn kém vẫn bán được hàng do nhái sản phẩm của người khác. Đây chính là chức năng tạo dựng và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh của cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung cũng như bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói riêng. Bằng cơ chế bảo hộ độc quyền, pháp luật sở hữu trí tuệ chống mọi hành vi sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ cũng như những hành vi bộc lô, sử dụng trái phép thông tin bí mật được bảo hộ.. từ đó tạo dựng và bảo vệ được môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa cá doanh nghiệp.

Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ?

Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Gọi: 0986.386.648

PV: Như Luật sư nói thì quyền sở hữu trí tuệ được coi như một tài sản. Vậy xin hỏi luật sư tài sản đó được hiểu như thế nào? Có thể mua bán được không?

Luật sư Lê Minh Trường trả lời: Sở hữu trí tuệ, hay có khi còn gọi là tài sản trí tuệ, là những sản phẩm sáng tạo của bộ óc con người. Ðó có thể là tác phẩm văn học, âm nhạc, phần mềm máy tính, phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, v.v...Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền đối với những sản phẩm sáng tạo nói trên. Trong số các quyền này có 2 quyền thường được nhắc đến là quyền tài sản và quyền nhân thân.

Pháp luật không gọi là mua bán mà là hoạt động chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp.

PV: Luật sư có thể cho biết thực trạng đăng ký bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam hiện nay? Tại sao doanh nghiệp, cá nhân hiện vẫn đang thờ ơ với hoạt động này?

Luật sư Lê Minh Trường trả lời:

- Đó là do sự thay đổi trong cơ cấu các yếu tố tạo nên giá trị hàng hoá. Ở thời kỳ sản xuất nông nghiệp, phần lớn giá trị của nông sản là do lao động cơ bắp của người nông dân bỏ ra. Đến thời đại công nghiệp, máy móc đã dần dần thay thế lao động cơ bắp trong tỷ lệ giá trị hàng hoá. Ngày nay, khi mà nhiều nước đã chuyển sang nền kinh tế tri thức thì hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm và dịch vụ ngày càng lớn lên, trở thành một yếu tố quyết định tính cạnh tranh. Một container máy điện thoại di động có giá trị lớn hơn một container xe máy, và càng lớn hơn giá trị của một container sắn lát. Do vậy, quyền sở hữu trí tuệ càng được người ta chú trọng bảo vệ.

- Doanh nghiệp, cá nhân hiện nay vẫn đang thờ ơ với hoạt động này vì họ chưa nhận thấy tầm quan trọng, tẩm ảnh hưởng của hoạt động này trong cuộc sống, cũng như hoạt động kinh doanh.

Trân trọng cảm ơn Luật sư!

Liên hệ sử dụng dịch vụ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 0986.386.648

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

2. Giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ Khóa XII và năm 2008, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các cơ quan hữu quan chuẩn bị Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Tháng 5 năm 2008, Dự án Luật được khởi động thực hiện theo Quyết định số 25/QĐ-TTg, và quyết định số 2013/QĐ-BVHTTDL. Với tinh thần chủ động và tích cực, Ban soạn thảo đã hoàn tất Báo cáo tổng kết hai năm thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ; Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ; tổ chức các hội thảo để lấy ý kiến đóng góp của đại diện giới sáng tạo, nhà sử dụng, các cơ quan quản lý và thực thi ở Trung ương và địa phương, các nhà khoa học, chuyên gia.

Bộ Tư pháp đã có ý kiến thẩm định tại văn bản số 4135/BTP-PLDSKT ngày 19 tháng 12 năm 2008. Các ý kiến đóng góp, ý kiến thẩm định đã được Ban soạn thảo tiếp thu và hoàn chỉnh Dự thảo Luật.

Ngày 10/12/2008, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trưởng Ban soạn thảo đã trình Chính phủ xem xét Dự án Luật tại phiên họp thường kỳ tháng 12 năm 2008 của Chính phủ. Ngày 04/02/2009, Chính phủ đã có Tờ trình số 12/TTr-CP trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Dự án Luật. Ngày 23 tháng 2 năm 2009, Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội đã có Báo cáo thẩm tra sơ bộ Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 705/BC-UBPL12. Tại phiên họp thứ 17 ngày 24 tháng 2 năm 2009, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã họp thảo luận và cho ý kiến đối với các nội dung thuộc Dự án do Chính phủ trình và Báo cáo Thẩm tra sơ bộ của Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội. Ngày 11 tháng 3 năm 2009, Hội nghị thường trực Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội đã họp và thảo luận về Dự án Luật.

Tiếp thu ý kiến các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ đã hoàn chỉnh Luật và trình Quốc hội tại tờ trình số 48/TTr-CP ngày 09/4/2009.

Ngày 27 tháng 4 năm 2009, Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội đã có Báo cáo thẩm tra Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 814/BC-UBPL12.

Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ với 90,26% tổng số đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chủ tịch nước đã có Lệnh số 12/2009/L - CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ.

I. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

1. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ:

Việc Quốc hội ban hành Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đánh dấu bước phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản pháp luật cũng đã được ban hành kịp thời 06 Nghị định của Chính phủ, 02 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 04 Thông tư cùng 04 Quyết định của các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành đã tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo. Về cơ bản, nó đã kế thừa các giá trị của các văn bản pháp luật được thể nghiệm trong thực tiễn, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, gồm người sáng tạo, nhà sử dụng, công chúng hưởng thụ, bảo vệ lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp quốc tế, thực hiện sự minh bạch, khả thi. Vì vậy, nó đã thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia, góp phần quan trọng kết thúc quá trình đàm phán để Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ đã thực sự đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng trong hơn hai năm thi hành. Có trên 100 hội nghị, lớp tập huấn, hội thảo đã được tổ chức cho các đối tượng có quyền và nghĩa vụ liên quan, từ giới sáng tạo đến nhà sử dụng, các cơ quan quản lý và thực thi với trên 10.000 lượt người tham dự. Nhận thức của công chúng, đặc biệt là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được nâng lên thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và thực thi pháp luật.

Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn diễn ra đối với hầu hết các đối tượng được bảo hộ từ quyền tác giả, quyền liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp và giống cây trồng. Nạn sao chép tác phẩm, vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa đã gây thiệt hại không nhỏ đối với các nhà đầu tư. Hầu hết các bản ghi âm, ghi hình, chương trình máy tính có giá trị bị sao chép lậu, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng bị làm giả, làm nhái. Môi trường kỹ thuật số nói chung, mạng thông tin điện tử nói riêng đã được khai thác với động cơ vụ lợi, xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả đối với các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Một số vụ việc đã được các tổ chức quốc tế, các quốc gia, doanh nghiệp nước ngoài yêu cầu các cơ quan nhà nước Việt Nam xem xét, xử lý.

Tình trạng vi phạm trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nhận thức chung của toàn xã hội về vai trò của sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật. Năng lực, kinh nghiệm và hệ thống thực thi pháp luật có nhiều hạn chế, bất cập. Pháp Luật Sở hữu trí tuệ vẫn còn những quy định chưa phù hợp trong hoạt động thực thi bảo vệ quyền, một số điều khoản chưa tương thích với pháp luật quốc tế.

2. Những tồn tại chính của Luật Sở hữu trí tuệ:

- Có một số điều khoản chưa tương thích với luật pháp quốc tế như: quy định về giới hạn quyền tác giả tại Điều 26, giới hạn quyền liên quan tại Điều 33, chưa phù hợp với Công ước Berne. Nội dung quyền đối với giống cây trồng quy định tại các Điều 157, 160, 163, 165, 178, 186, 187, 188, 190, 194 chưa tương thích với Công ước UPOV, .

Có một số điều khoản có lỗi về kỹ thuật dẫn đến chưa tương thích với Công ước Berne tại các Điều 42 khoản 1 điểm a về tác phẩm “khuyết danh”; về loại hình tác phẩm tại Điều 14 khoản 1 điểm k thiếu tác phẩm “kiến trúc” chưa thực sự phù hợp với Công ước Berne.

- Có một số quy định qua thực tế thi hành bộc lộ những hạn chế, bất cập như các quy định về thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp tại các Điều 87, 90, 119, 134, 154; các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại các Điều 201, 211, 214, 216, 218.

- Một số vấn đề mới phát sinh trong quá trình hội nhập phải đáp ứng nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với pháp nhân và công dân nước ngoài, như vấn đề thời hạn bảo hộ quyền tác giả (Điều 27) cần được kéo dài hơn so với quy định hiện hành.

Nguyên nhân của các tồn tại của Luật Sở hữu trí tuệ:

- Về khách quan: bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề mới và phức tạp đối với Việt Nam, vì vậy, không tránh khỏi các khiếm khuyết và lỗi về kỹ thuật lập pháp trong quá trình chuẩn bị và phê duyệt.

- Về chủ quan: có một số điều luật được quy định nhằm đáp ứng yêu cầu đối với hoạt động của các phương tiện phát sóng phục vụ cộng đồng, nhưng chưa phù hợp với luật pháp quốc tế (Điều 26, 33). Quy định này đã trở thành vấn đề tại các diễn đàn quốc tế liên quan, tại các vòng đàm phán về việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam, đã quy định áp dụng trực tiếp các Điều 26, 33 của Luật Sở hữu trí tuệ tại phụ lục kèm theo Nghị định thư: “Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm, bản ghi âm ghi hình đã công bố để thực hiện chương trình phát sóng không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan”.

3. Để giải quyết các tồn tại, bất cập trên về pháp luật và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cần thiết phải thể chế hóa Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11, đồng thời sửa đổi một số điều khoản khác hiện đang chưa tương thích với luật pháp quốc tế, một số điều khoản chưa phù hợp gây khó khăn cho hoạt động thực thi, cũng như những vấn đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện. Việc sửa đổi này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hội nhập, khắc phục các tồn tại bất cập, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức Việt Nam bình đẳng với công dân và pháp nhân của các quốc gia, thúc đẩy các hoạt động thực thi tại Việt Nam và hội nhập quốc tế. Việc sửa đổi đồng thời sẽ góp phần quan trọng phát huy năng lực sáng tạo, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, phát triển thị trường công nghệ, từ đó nâng cao hiệu lực của pháp luật, hiệu quả thực thi, góp phần phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội.

II. Quan điểm chỉ đạo sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

Năm quan điểm xây dựng, trình và phê duyệt Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 tiếp tục được quán triệt để triển khai thực hiện Dự án, bao gồm: thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, quy phạm hóa nội dung Nghị quyết số 71/2006/QH11 về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam; bảo vệ lợi ích quốc gia; bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng và công chúng hưởng thụ; kế thừa các giá trị pháp luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm, tiếp thu các chuẩn mực quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Từ các quan điểm trên, 3 hướng chính cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ gồm:

- Sửa đổi một số điều khoản có nội dung chưa tương thích với các điều ước quốc tế đa phương, các điều khoản khác phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập;

- Sửa đổi một số điều khoản đang nảy sinh các vướng mắc trong thực thi;

- Chỉnh sửa các lỗi kỹ thuật về nội dung văn bản và các từ ngữ phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

Từ các quan điểm chỉ đạo và hướng sửa đổi, bổ sung nêu trên, Dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ đã được Ban soạn thảo chuẩn bị, tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan. Có 4 nhóm vấn đề được đề cập đến trong việc sửa đổi, bổ sung gồm:

a) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới nội dung quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng, thuộc Phần thứ hai và Phần thứ tư Luật hiện hành;

b) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp, thuộc Phần thứ ba và Phần thứ sáu Luật hiện hành;

c) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới chính sách về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thuộc Phần thứ nhất và Phần thứ năm Luật hiện hành;

d) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới kỹ thuật văn bản và thay đổi từ ngữ phù hợp với các quy định pháp luật liên quan.

III. Nội dung cơ bản của các điều khoản sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

1. Những nội dung cơ bản của các điều khoản sửa đổi, bổ sung

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ gồm 3 Điều. Điều 1, sửa đổi, bổ sung một số khoản, điểm tại 30 Điều của Luật sở hữu trí tuệ, gồm các Điều 3, 4, 7, 8, 14, 25, 26, 27, 30, 33, 41, 42, 87, 90, 119, 134, 154, 157, 160, 163, 165, 186, 187, 190, 194, 201, 211, 214, 218 và Điều 220. Điều 2, thay cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại Điều 11, Điều 50, và Điều 51 của Luật sở hữu trí tuệ. Luật sửa đổi lần này tiếp tục khẳng định việc duy trì thẩm quyền của Bộ Văn hóa, Thông tin trước kia, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan như đã được quy định tại Điều 11 Luật sở hữu trí tuệ 2005. Điều 3 quy định hiệu lực thi hành Luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2010; giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Tại phần thứ nhất: sửa đổi, bổ sung 5 Điều, gồm các Điều 3, 4, 7, 8, 11

Điều 3: bổ sung cụm từ “vật liệu thu hoạch” để phù hợp Công ước UPOV về giống cây trồng

Điều 4: bổ sung 2 thuật ngữ để quy định rõ và đầy đủ nội hàm của vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.

Điều 7: bổ sung quy định về bảo hộ sáng chế mật. Đây là vấn đề mới và phức tạp, vì vậy Quốc hội giao Chính phủ quy định cụ thể để thực hiện và sẽ được luật hoá sau một thời gian kiểm nghiệm qua thực tiễn thi hành.

Điều 8: để thực hiện được những chính sách đã quy định tại Điều này phải có sự đầu tư các nguồn lực khác nhau, trong đó có nguồn từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, bổ sung khoản 5 về đẩy mạnh đầu tư và huy động các nguồn lực xã hội nhằm nâng cao năng lực của hệ thống bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Tại phần thứ hai: sửa đổi, bổ sung 10 Điều, gồm các Điều 14, 25, 26, 27, 30, 33, 41, 42, 50, 51

Điều 14: bổ sung 2 từ “kiến trúc” vào điểm k khoản 1 để phù hợp với Công ước Berne.

Điều 25: Sửa khoản 3 theo hướng không áp dụng điểm a, đ khoản 1 đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.

Điều 30: Bổ sung cụm từ “nhập khẩu” để phù hợp với Điều 2 Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ. Việc bổ sung này cũng phù hợp với Điều 4 khoản 6 BTA. Đồng thời nó cũng phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 20 Luật SHTT về quyền tài sản thuộc quyền tác giả.

Điều 26, 33: sửa để phù hợp với Điều 11bis Công ước Berne, quy phạm hoá Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn Nghị định thư thành lập WTO về việc áp dụng trực tiếp nội dung quy định tại Phụ lục kèm theo.

Việc sửa đổi có phân biệt việc trả tiền nhuận bút, thù lao trong trường hợp sử dụng để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào và việc sử dụng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất cứ hình thức nào. Quy định này phù hợp với thực tiễn của Việt Nam vì trong nhiều năm qua, phần lớn tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, kể cả nguồn nhân lực sáng tạo chung đều được hình thành bởi sự đầu tư, bao cấp của Nhà nước và xã hội. Do đó, phải tính đến lợi ích của Nhà nước và cộng đồng xã hội. Đồng thời, cũng phù hợp với khoản 2 Điều 11bis Công ước Berne cho phép quốc gia thành viên được quy định điều kiện áp dụng quyền tác giả, bảo đảm không vi phạm quyền tinh thần cũng như quyền được nhận thù lao hợp lý của tác giả. Quy định như vậy cũng không mâu thuẫn với Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội. Quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự và Luật sở hữu trí tuệ. Vì vậy, trước hết cần thực hiện theo nguyên tắc thoả thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì giao Chính phủ quy định về mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán để thực hiện; đồng thời làm căn cứ để Toà án giải quyết khi đương sự khởi kiện tại Toà án.

Điều 27: loại hình tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh, được kéo dài thời hạn bảo hộ tới 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được định hình, nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn được bảo hộ là 100 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình. Quy định này vừa nhằm khuyến khích tác giả, chủ sở hữu công bố tác phẩm phục vụ xã hội, vừa nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích giữa loại hình tác phẩm tính thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc đời người và loại hình tác phẩm tính thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc định hình hoặc công bố; đồng thời để bảo đảm sự công bằng cho người Việt Nam với người nước ngoài khi áp dụng thời hạn bảo hộ này theo cam kết tại BTA và thực hiện nguyên tắc đối xử tối huệ quốc của Hiệp định TRIPS.

Như vậy, các loại hình tác phẩm còn lại bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, giáo khoa, giáo trình, bài giảng, bài phát biểu, báo chí, kiến trúc, tạo hình, âm nhạc, chương trình máy tính v.v... quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 27 vẫn giữ nguyên thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết.

Đối với tác phẩm sân khấu, theo Công ước Berne, Hiệp định TRIPs và phù hợp với BTA thì thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết. Do đó, nó đã được chuyển sang bảo hộ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27.

Điều 41: Bổ sung khoản 2 để khuyến khích người quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định, phù hợp với điều 15 Công ước Berne. Theo đó, tại điểm a khoản 1 Điều 42 bổ sung quy định loại trừ khoản 2 điều 41 về Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước.

Tại phần thứ ba: sửa đổi, bổ sung 5 Điều, gồm các Điều 87, 90, 119, 134, 154.

Điều 87: bổ sung quy định về đăng ký nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm, để thống nhất quyền quản lý chỉ dẫn địa lý đối với đối tượng được coi là tài sản quốc gia.

Điều 90: sửa đổi nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, để bảo đảm không cấp nhiều văn bằng bảo hộ cùng loại đối với cùng một đối tượng hoặc đối với các đối tượng không khác biệt nhau.

Điều 119: sửa đổi điểm a, b khoản 2 Điều 119 để giãn thời hạn thẩm định nội dung đơn: đối với đơn sáng chế, từ 12 tháng thành 18 tháng và đối với đơn nhãn hiệu từ 6 tháng thành 9 tháng, và kiểu dáng công nghiệp từ 6 tháng thành 7 tháng, nhằm đảm bảo tính khả thi, cấp văn bằng chính xác, tránh tồn đọng hồ sơ đăng ký, cũng như tránh phải hủy bỏ văn bằng bảo hộ phù hợp với quyền ưu tiên theo Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp.

Điều 134: sửa mốc thời gian xác lập quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp để bảo đảm tương thích với Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp.

Điều 154: bổ sung điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, trừ tổ chức luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam, phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Tại phần thứ tư: sửa đổi, bổ sung 8 Điều, gồm các Điều 157, 160, 163, 165, 186, 187, 190, 194.

Điều 157: sửa để phù hợp với Công ước UPOV về tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.

Điều 160: loại bỏ điểm d khoản 2 quy định về giống cây trồng mà bản mô tả chi tiết của giống đó đã được công bố, để phù hợp với Công ước UPOV.

Điều 163: loại bỏ điểm e khoản 3, quy định về tên của giống cây trồng không được coi là phù hợp trong các trường hợp trùng hoặc tương tự với tên của sản phẩm thu hoạch từ giống cây trồng đó, bổ sung khoản 6 quy định về công khai tên giống cây trồng để phù hợp với Điều 20 Công ước UPOV.

Điều 165: Bổ sung các khoản 2, 3, 4, 5 về điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.

Điều 186: bổ sung khoản 2 quy định về quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều 14 Công ước UPOV.

Điều 187: sửa đổi quy định về mở rộng quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều 14 Công ước UPOV.

Điều 190: sửa đổi quy định về hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều 15 Công ước UPOV.

Điều 194: bổ sung khoản 4 quy định về việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng được tạo ra từ ngân sách nhà nước.

Tại phần thứ năm: sửa đổi, bổ sung 4 Điều, gồm các Điều 201, 211, 214, 218

Điều 201: sửa để cho phép các tổ chức, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện theo quy định pháp luật được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ. Quy định này phù hợp với xu hướng cải cách hành chính hiện nay, đồng thời đảm bảo chủ trương xã hội hoá của hoạt động này. Các Bộ liên quan có thể thành lập các đơn vị sự nghiệp, để tham gia thực hiện hoạt động giám định.

Điều 211: mở rộng phạm vi xử lý hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, để các cơ quan có thẩm quyền chủ động kiểm tra xử lý vi phạm.

Điều 214: bỏ quy định về mức phạt tiền theo giá trị hàng hóa xâm phạm để áp dụng quy định chung của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, với mức phạt tối đa 500 triệu đồng.

Điều 218: sửa thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan, để phù hợp Điều 55 Hiệp định TRIPS, Điều 15.5 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.

Tại phần thứ sáu: sửa đổi Điều 220

Điều 220: sửa lời văn của quy định chuyển tiếp liên quan đến văn bằng bảo hộ cấp theo quy định pháp luật có hiệu lực trước Luật Sở hữu trí tuệ tại khoản 3 để tránh gây hiểu và áp dụng sai trong thực tiễn; bổ sung quy định áp dụng quy định chuyển tiếp cho tên gọi xuất xứ hàng hóa – đối tượng được xác lập quyền mà không cấp văn bằng bảo hộ.

2. Tác động của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ:

Với việc sửa đổi như trên, sự tác động tích cực của nó sẽ thể hiện trên các khía cạnh chính sau:

- Tạo ra sự phù hợp hơn của Luật Sở hữu trí tuệ với các chuẩn mực quốc tế, các cam kết của Việt Nam khi tham gia WTO

Các Điều, khoản được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các Điều ước quốc tế đa phương, các cam kết của Việt Nam khi tham gia WTO sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc sửa đổi này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc hội nhập quốc tế với các chuẩn mực chung, phù hợp.

Khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam với cơ chế pháp luật rõ ràng, mang tính quốc tế.

Hạn chế tối đa tranh chấp về việc hiểu và thi hành Luật Sở hữu trí tuệ trong các quan hệ quốc tế. Loại trừ ý kiến của các quốc gia tại các diễn đàn quốc tế liên quan về những hạn chế của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

- Lợi ích quốc gia được bảo vệ trong quá trình hội nhập; tạo ra sự bình đẳng về lợi ích giữa công dân, pháp nhân Việt Nam với công dân, pháp nhân nước ngoài

Các sửa đổi, bổ sung sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân Việt Nam, đảm bảo sự hài hoà về lợi ích giữa các chủ thể quyền trong và ngoài nước, khắc phục các hạn chế trong các cam kết quốc tế, tạo vị thế và thuận lợi cho các chủ thể quyền trong các giao dịch quốc tế liên quan.

Việc sửa để kéo dài thời hạn bảo hộ tới 75 năm đối với loại hình tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh; để cân bằng lợi ích giữa các loại hình, phù hợp với xu thế chung trên thế giới, vì tuổi thọ bình quân của con người đã được nâng lên (người Việt Nam có tuổi thọ bình quân là 73 tuổi); đồng thời khắc phục sự đối xử bất bình đẳng về thời hạn bảo hộ đã cam kết tại BTA. Sửa đổi này cũng nhằm để công dân, pháp nhân Việt Nam được hưởng các lợi ích như công dân, pháp nhân các nước thành viên WTO khi Việt Nam thực hiện nguyên tắc đối xử tối huệ quốc của Hiệp định Trips.

Việc bổ sung quy định về sáng chế mật để có thể bảo vệ được bí mật quốc phòng, bí mật quốc gia; quy định về chỉ dẫn địa lý đối với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận sẽ bảo vệ được tài sản quốc gia trong hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nó hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Công dân, doanh nghiệp được tiếp cận các quy định rõ ràng và cụ thể hơn về trình tự, thủ tục xác lập quyền

Các sửa đổi, bổ sung tạo điều kiện cho công dân, doanh nghiệp tiếp cận các thủ tục rõ ràng, minh bạch trong việc tiến hành xác lập quyền, phù hợp với yêu cầu về cải cách hành chính. Giảm các chi phí về tài chính cũng như thời gian vật chất liên quan đến việc lập hồ sơ, thủ tục nộp đơn, xin cấp văn bằng bảo hộ. Khuyến khích các chủ sở hữu nộp đơn đăng ký xác lập quyền để được bảo hộ. Ngăn chặn các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà có thể xảy ra tại các cơ quan có thẩm quyền.

- Các cơ quan quản lý, thực thi về sở hữu trí tuệ được hưởng các chính sách phù hợp, tạo điều kiện cho các hoạt động thực thi có hiệu quả

Bổ sung quy định chính sách về, nhằm bảo đảm các điều kiện vật chất phù hợp với đặc thù của lĩnh vực sở hữu trí tuệ, để hỗ trợ các cơ quan quản lý, thực thi về sở hữu trí tuệ còn non trẻ, đang gặp nhiều khó khăn trong cơ chế chung hiện nay. Góp phần thúc đẩy các hoạt động thực thi đạt hiệu quả.

Theo đó, các bộ, ngành có thẩm quyền quan tâm xử lý các vấn đề liên quan đến tài chính, cũng như các điều kiện vật chất khác, để các cơ quan quản lý, thực thi sở hữu trí tuệ hoàn thành nhiệm vụ theo quy định pháp luật.

Việc các bộ, ngành liên quan thành lập các tổ chức sự nghiệp để tham gia hoạt động giám định sẽ khắc phục tình trạng bất cập về chuyên môn sở hữu trí tuệ trong lực lượng thực thi thuộc bộ máy nhà nước, các tổ chức hỗ trợ thực thi như tổ chức tư vấn, dịch vụ sở hữu trí tuệ, tổ chức đại diện tập thể. Chủ trương này còn nhằm tận dụng năng lực chuyên môn của đội ngũ chuyên gia trong các cơ quan nhà nước, để hỗ trợ hoạt động của các cơ quan thực thi trong điều kiện chưa đủ năng lực chuyên môn về sở hữu trí tuệ.

- Nâng cao nhận thức, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho công chúng, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ lần này tạo ra dư luận xã hội quan tâm hơn nữa tới vấn đề sở hữu trí tuệ còn mới mẻ và rất phức tạp tại Việt Nam. Là dịp củng cố, tiếp tục nâng cao nhận thức, hiểu biết, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng. Các văn nghệ sỹ, trí thức phấn khởi, yên tâm hơn trong các hoạt động sáng tạo để có được các sản phẩm có giá trị tư tưởng, văn học, nghệ thuật và khoa học phục vụ công chúng, vì có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.

Các cơ quan bảo vệ pháp luật được trang bị thêm kiến thức mới, đầy đủ, cụ thể hơn để có thể thực thi pháp luật có hiệu quả. Các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuận lợi hơn trong việc áp dụng khung hình phạt phù hợp với thẩm quyền. Cơ quan hải quan có điều kiện chủ động hơn trong việc xử lý hàng hoá xuất, nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại cửa khẩu biên giới.

Tóm lại, các sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các tổ chức, cá nhân tiếp cận được hệ thống pháp luật hoàn thiện, hiện đại, phù hợp với thực tiễn; tăng cường năng lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, thực thi, các cơ quan hỗ trợ thực thi, góp phần tạo ra chuyển biến tích cực, có hiệu quả của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia và hội nhập quốc tế./.

IV. Tổ chức thực hiện

1. Nghiên cứu xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện

1.1. Ba Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và công nghệ và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thống nhất trong Quý IV/2009 trình Chính phủ 4 Nghị định sau:

- Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan;

- Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;

- Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về giống cây trồng;

Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ đối với các quy định chung cho 3 đối tượng sở hữu trí tuệ.

1.2. Theo thẩm quyền của mình, các Bộ có thể có các thông tư, hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn những vấn đề cụ thể do Chính phủ giao, hoặc có nhu cầu từ thực tiễn. Riêng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có kế hoạch phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu xây dựng thông tư liên tịch về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ internet.

2. Về tuyên truyền, phổ biến pháp luật

2.1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có kế hoạch ban hành kèm theo quyết định số 2651/QĐ-BVHTTDL ngày 30/7/2009 về việc tổ chức giới thiệu Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Theo đó, có 6 chương trình được tổ chức cho các đối tượng khác nhau từ giới báo chí, đến các đối tượng của cơ quan quản lý văn hóa, thể thao và duc lịch ở Trung ương và địa phương, các cơ quan thực thi trên phạm vi cả nước.

2.2. Website “Quyền tác giả Việt Nam” truyền phát toàn bộ hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quốc tế, trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; các hoạt động liên quan đến việc triển khai thi hành, kiểm tra xử lý vi phạm.

2.3. Tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, sau khi Chính phủ ban hành (Quý I/2010).

2.4. Tổ chức các hội thảo quốc tế, quốc gia:

- Tổ chức Hội thảo quốc tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với sự phối hợp của WIPO và Cục Bản quyền tác giả về quyền tác giả trong công nghệ thông tin – truyền thông vào các ngày 29, 30, 31/7/2009.

- Tổ chức Hội thảo về truyền hình trả tiền với sự phối hợp giữa Cục Bản quyền tác giả với CASABAA (dự kiến trong năm 2009)

- Tổ chức Hội thảo về thu tiền đền bù từ các thiết bị ghi và vật ghi, trong đó có đĩa quang, với sự phối hợp giữa Cục Bản quyền tác giả và Viện Sở hữu trí tuệ của Liên bang Thụy Sĩ (tháng 10/2009).

2.5. Tổ chức hội nghị tổng kết 1 năm thi hành Chỉ thị 36 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan (Quý I/2010).

(MKLAW FIRM: Biên tập)

3. Xây dựng khái niệm nhãn hiệu trong luật sở hữu trí tuệ

Không phải là hàng hoá nhưng nhãn hiệu lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại. Nhãn hiệu là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT).

Vì vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên, khái niệm nhãn hiệu vẫn chưa được hiểu thống nhất ở các quốc gia. Bài viết đề cập đến khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ – hai vùng lãnh thổ có truyền thống pháp luật lâu đời về nhãn hiệu, từ đó đề xuất đưa ra khái niệm nhãn hiệu cho Luật SHTT Việt Nam.

Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu1. Trong số này, có thể kể một số điều ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia như Công ước Paris 1883, Hệ thống Madrid, Hiệp định TRIPs. Tuy Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thống Madrid). Riêng TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu. Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định như sau:

>> Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Gọi: 0986.386.648

Luật sư Lê Minh Trường tham gia chương trình 60 phút mở trên VTV6 - Tư vấn luật về Sở hữu trí tuệ

Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.

Khái niệm này chỉ ra một số đặc điểm của nhãn hiệu. Thứ nhất, đó phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu. Các dấu hiệu đó có thể là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó. Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác.

Có thể nói, đây là một khái niệm mang tính khái quát và mềm dẻo trong pháp luật quốc tế. Còn các quốc gia, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của mình mà đưa ra khái niệm nhãn hiệu phù hợp.

Việt Nam là một thành viên của nhiều thoả thuận quốc tế về nhãn hiệu bao gồm Công ước Pari và Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế (Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid), Hiệp định TRIPs. Trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục SHTT. Luật SHTT năm 20052 là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã được ban hành từ trước. Luật SHTT của Việt Nam không có điều khoản cụ thể nào về định nghĩa nhãn hiệu mà khái niệm nhãn hiệu được quy định trong phần giải thích từ ngữ. Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” (Điều 4 khoản 16). Tuy nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt cũng có thể trở thành nhãn hiệu vì điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại Điều 72 Luật SHTT như sau:

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

2- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.

Như vậy, một nhãn hiệu có thể được bảo hộ nếu đáp ứng được hai điều kiện. Thứ nhất, dấu hiệu phải “nhìn thấy được”. Quy định này hẹp hơn quy định của TRIPs “bất kỳ dấu hiệu nào”. Điều này có nghĩa rằng, các dấu hiệu như âm thanh, mùi vị… không thể được đăng ký là nhãn hiệu theo quy định của pháp luật SHTT Việt Nam. Thứ hai, “khả năng phân biệt” là điều kiện bắt buộc của nhãn hiệu. Đây cũng là chức năng chính của nhãn hiệu. Đặc điểm này là đặc điểm chung của nhãn hiệu và do đó, nó giống với các điều ước quốc tế cũng như luật về nhãn hiệu của các nước trên thế giới.

Châu Âu bao gồm nhiều các quốc gia khác nhau nên có sự khác nhau trong luật về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên. Do sự khác nhau này và sự ảnh hưởng của nó đến thị trường chung Châu Âu nên cần thiết phải có sự điều chỉnh hài hoà ở cấp độ cộng đồng. Chỉ thị 89/104/EEC3 của Cộng đồng Châu Âu là chỉ thị đầu tiên quy định các vấn đề về nhãn hiệu ở cấp độ cộng đồng. Mục đích của Chỉ thị này là nhằm đảm bảo điều kiện đăng ký nhãn hiệu hài hoà ở tất cả các thành viên trong Cộng đồng Châu Âu và để đảm bảo hiệu lực cao hơn về sự hài hoà trong Cộng đồng, Quy định 40/944 đã được thiết lập. Các vấn đề về nhãn hiệu trong Quy định này được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ Châu Âu. Định nghĩa về nhãn hiệu được quy định giống nhau ở Điều 2 Chỉ thị 89/104 và Điều 4 Quy định 40/94 như sau:

Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết (represented graphically), đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác.

Theo định nghĩa này, nhãn hiệu phải đáp ứng ba điều kiện. Thứ nhất: “là dấu hiệu”; thứ hai: “được trình bày rõ ràng và chi tiết” (represented graphically) và thứ ba: “có khả năng phân biệt hàng hoá và dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”.

Ở điều kiện thứ nhất, “bất kỳ dấu hiệu nào” được hiểu rất rộng. Việc sử dụng từ “bất kỳ dấu hiệu” (any signs) làm cho định nghĩa nhãn hiệu “mềm dẻo và không giới hạn”5. Mặc dù định nghĩa trên đưa ra một loạt các dấu hiệu như các từ bao gồm tên riêng, chữ cái, chữ số hoặc hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm nhưng chúng không phải là giới hạn. Đây chỉ là những dấu hiệu thường được sử dụng để các chủ thể chỉ ra hàng hoá, dịch vụ của mình. Trên thực tế, có rất nhiều các dấu hiệu khác biệt không nằm trong các dấu hiệu được liệt kê và vẫn được đăng ký. Mặc dù không được quy định cụ thể nhưng dấu hiệu có thể bao gồm cả khẩu hiệu, âm thanh, mùi vị… Tuy nhiên, để được đăng ký là nhãn hiệu, dấu hiệu phải “được trình bày rõ ràng và chi tiết” (represented graphically). Mục đích của điều kiện này là nhằm chỉ ra nhãn hiệu là gì. Hay nói cách khác, nhãn hiệu được nhận thức như thế nào. Một nhãn hiệu có thể được nhận thức bởi một hay vài, thậm chí cả năm giác quan. Chẳng hạn như nhãn hiệu mùi cỏ tươi mới cắt cho bóng tennis, tiếng nhạc chuông của hãng điện thoại NOKIA6, nhãn hiệu âm thanh là tiếng bíp bíp cho phương tiện truyền thanh ở Anh, nhãn hiệu là hình ảnh không gian ba chiều chai của COCACOLA7, …

Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng đạo luật Lanham. Khác với Việt Nam và Châu Âu, Lanham Act định nghĩa riêng biệt hai loại nhãn hiệu: nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ. Theo đoạn 1127 Lanham Act, nhãn hiệu hàng hoá được giải thích như sau:

Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà:

(1) được sử dụng bởi một người, hoặc

(2) được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này để xác định và phân biệt hàng hoá của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với hàng hoá được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc đó.

Định nghĩa này kết hợp hai chức năng khác nhau của nhãn hiệu: thứ nhất, chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá, và thứ hai, phân biệt hàng hoá của chủ thể này với hàng hoá của chủ thể khác. Hoa Kỳ cũng quy định cho các dấu hiệu dễ dàng nhận ra như từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, khẩu hiệu… là nhãn hiệu theo truyền thống thông thường. Tuy nhiên, dần dần, Hoa Kỳ đã mở rộng bảo vệ các loại nhãn hiệu không dễ dàng được nhận ra, chẳng hạn như hình dạng sản phẩm, mầu sắc, âm thanh, mùi thơm… Mục 1052 đạo luật Lanham quy định một nhãn hiệu sẽ được đăng ký vào Hệ thống đăng ký gốc nếu nó có khả năng phân biệt hàng hoá của chủ thể này với hàng hoá của chủ thể khác trừ khi nó bị ngăn cấm bởi các quy định của pháp luật: “Không có nhãn hiệu nào mà hàng hoá của người nộp đơn có khả năng phân biệt hàng hoá của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào hệ thống đăng bạ gốc, trừ…”. Như vậy, theo tinh thần của điều luật, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt không rơi vào các trường hợp bị từ chối đều có thể được đăng ký là nhãn hiệu.

Nói tóm lại, “khả năng phân biệt” luôn luôn là đặc điểm cơ bản của nhãn hiệu. Bất kỳ dấu hiệu nào không thoả mãn điều kin này đều không thể được đăng ký là nhãn hiệu. Cả luật Việt Nam, luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ đều không có điều khoản định nghĩa nhãn hiệu. Khái niệm nhãn hiệu được hiểu qua các điều khoản khác, chẳng hạn như quy định ở phần giải thích thuật ngữ (Việt Nam, Hoa Kỳ), hay trong điều khoản quy định về “Các dấu hiệu là nhãn hiệu” (Châu Âu). Các điều khoản này thường liệt kê các dấu hiệu thông thường có khả năng đăng ký nhãn hiệu. Các dấu hiệu khác như mùi, âm thanh,… không được liệt kê trong luật nhãn hiệu. Mặc dù các quy định còn có những điểm khác nhau, song chúng đều giống nhau ở cách tiếp cận khái niệm theo chức năng phân biệt. Nó là điều kiện cơ bản nhất để một nhãn hiệu được đăng ký.

Nhãn hiệu có nhiều chức năng, trong đó chức năng cơ bản nhất là tính phân biệt. Pháp luật của cả Việt Nam, Châu Âu và Hoa Kỳ phù hợp với pháp luật quốc tế đều dựa trên chức năng tính phân biệt để đưa ra khái niệm nhãn hiệu. Tuy nhiên, tính phân biệt của nhãn hiệu lại được đánh giá dựa vào những dấu hiệu loại trừ khả năng phân biệt. Mặc dù đều dựa trên tính phân biệt của nhãn hiệu để đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng mỗi quốc gia lại có những cách định nghĩa không giống nhau. Luật SHTT Việt Nam không có điều khoản riêng về khái niệm nhãn hiệu, nhưng qua các điều khoản cụ thể có thể hiểu nhãn hiệu là dấu hiệu có thể nhìn thấy được và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ quy định mở hơn đối với các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu. Đó là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt chứ không chỉ bó hẹp ở các dấu hiệu nhìn thấy được. Do đó, các dấu hiệu không thông dụng (unusual) như mùi vị, âm thanh… cũng có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu.

Do đó, thay vì việc giải thích từ ngữ, Luật SHTT Việt Nam nên xây dựng khái niệm nhãn hiệu để tránh các cách hiểu không thống nhất. Nếu theo quy định tại Điều 4 Luật SHTT (giải thích từ ngữ) thì sẽ bị hiểu rằng dấu hiệu chỉ cần đáp ứng chức năng phân biệt là đủ để được đăng ký nhãn hiệu, trong khi Luật SHTT Việt Nam chỉ chấp nhận các dấu hiệu nhìn thấy được.

Hơn nữa, theo chúng tôi, Luật SHTT không nên chỉ quy định dấu hiệu nhìn thấy được tức là qua thị giác mà nên quy định các dấu hiệu có khả năng phân biệt được qua cả các giác quan khác. Bởi vì, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, các công ty nước ngoài vào Việt Nam đầu tư ngày càng nhiều và như vậy, số lượng đơn đề nghị bảo hộ nhãn hiệu ngày càng tăng. Đó là chưa kể khi trình độ dân trí càng cao thì khả năng xuất hiện những nhân tố mới là rất có thể. Do đó, có thể xây dựng một khái niệm về nhãn hiệu trong Luật SHTT Việt Nam như sau :

Bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể khác nhau không thuộc các trường hợp bị từ chối đăng ký đều có thể trở thành nhãn hiệu.

(MLAW FIRM: Biên tập)

4. Thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ có được tịch thu giấy phép kinh doanh không?

Công ty Honda Việt Nam sở hữu KDCN đối với các loại xe máy, trong đó có KDCN đã được cấp bằng độc quyền số 4306.Công ty Li đã đưa ra thị trường loại xe máy có các chi tiết nhựa gồm mặt nạ, cặp cánh yếm trái và phải, chắn bùn trước, cặp ốp giảm sóc trước trái và phải, cặp ốp lườn trái và phải, cốp xe, đèn sau, chắn bùn sau, mu rùa, ốp nhựa giữa yếm, cặp ốp sườn trái và phải. Các chi tiết này tạo thành xe có kiểu dáng trùng với KDCN đã được cấp bằng độc quyền số 4306.

Vụ vi phạm có nhiều tình tiết đáng lưu ý như hành vi có tính chất, quy mô lớn, có tổ chức, khép kín từ sản xuất, lắp ráp đến lưu thông trên thị trường. Đây là lần thứ 3 trong thời gian gần 1 năm, Công ty Li có hành vi vi phạm hành chính về SHCN. Hai lần trước đó Công ty này đã bị xử phạt.

Sau khi xem xét hành vi vi phạm và các tình tiết tăng nặng, UBND tỉnh Đồng Nai đã phạt Công ty Li 75 triệu đồng và tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh trong thời hạn 9 tháng, buộc tháo dỡ, tịch thu và tiêu huỷ toàn bộ các chi tiết vi phạm KDCN của Honda được lắp trên 72 chiếc xe máy của Công ty Li.

(Nguồn: Báo Đầu tư ngày 26.7.2005)

>> Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 0986.386.648

Lời bình:

1. Công ty Li đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN chưa hết thời hạn 1 năm, nay lại tiếp tục vi phạm. Hành vi vi phạm lần trước và lần này trong cùng lĩnh vực SHCN. Vì vậy, theo quy định của Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính bị coi là tái phạm. Tái phạm là trường hợp đã bị xử phạt nhưng chưa hết thời hạn 1 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt mà lại thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực đã bị xử phạt. “Lĩnh vực” quy định tại khoản này được hiu là các lĩnh vực quản lý nhà nước được quy định tại từng nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính. Tái phạm là một trong các tình tiết tăng nặng. Bên cạnh đó, việc vi phạm của Công ty Li có tính chất, quy mô lớn, có tổ chức. Do hành vi của Công ty Li có nhiều tình tiết tăng nặng nên mức phạt phải cao hơn mức trung bình của khung tiền phạt. Vì vậy, căn cứ Nghị định số 12/1999/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN có hiệu lực vào thời điểm xảy ra vụ việc này, UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định mức phạt 75 triệu đồng là phù hợp.

2. Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính và Nghị định số 12 quy định, bên cạnh hình thức phạt chính (cảnh cáo hoặc phạt tiền) còn có hình thức phạt bổ sung gồm các hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề và tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm. Trong quyết định xử phạt đối với Công ty Li có kèm theo hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu và tiêu huỷ toàn bộ các chi tiết vi phạm. Việc áp dụng hình thức phạt bổ sung này là hợp lý. Việc tịch thu, tiêu hủy giúp ngăn chặn việc tiếp tục đưa các chi tiết tạo nên KDCN vi phạm trở lại thị trường.

3. Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước giấy phép kinh doanh của Công ty Li là cần phải cân nhắc. Mặc dù pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính có quy định việc tước giấy phép kinh doanh, nhưng việc áp dụng hình thức xử phạt này trong từng trường hợp cần thận trọng. Tước giấy phép kinh doanh đồng nghĩa với việc Công ty Li sẽ phải ngừng toàn bộ hoạt động. Trong khi đó, hoạt động kinh doanh của Công ty Li bao gồm nhiều hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau. Hoạt động lắp ráp 72 xe gắn máy xâm phạm KDCN chỉ là một trong nhiều hoạt động theo giấy phép kinh doanh của Công ty này.

Vì vậy, biện pháp xử phạt bổ sung đối với Công ty Li phải là tước quyền hoạt động lắp ráp xe máy ghi trong giấy phép kinh doanh. Như vậy, Công ty Li không được lắp ráp xe máy trong thời hạn nhất định. Các hoạt động khác, trong các lĩnh vực khác không liên quan đến hoạt động vi phạm (lắp ráp xe máy) vẫn được hoạt động.

4. Để làm rõ nội dung tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề quy định tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính, Điều 11 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16.12.2008 quy định về tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề đã chỉ rõ đó là hình thức xử phạt bổ sung, được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng quy định sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề là các loại giấy tờ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cấp cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật để cho phép tổ chức, cá nhân đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề trong một lĩnh vực nhất định hoặc sử dụng một loại công cụ, phương tiện nhất định. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề quy định tại Điều này không bao gồm giấy đăng ký kinh doanh, các loại chứng chỉ gắn với nhân thân người được cấp không có mục đích cho phép hành nghề.

Như vậy, từ sau khi Nghị định số 128/2008/NĐ-CP có hiệu lực, các quyết định xử phạt hành chính trong trường hợp cần áp dụng biện pháp tịch thu giấy phép sẽ không bao gồm việc tịch thu giấy phép kinh doanh.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập)