NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Pháp luật của ta xóa bỏ các đặc quyền đặc lợi của thực dân và sự lệ thuộc vào đế quốc
Văn bản pháp lý đầu tiên, vô cùng quan trọng của ta là Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945, trong đó khẳng định xóa bỏ nhưng hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Tiếp đó, Chính phủ ta đã tuyên bố thủ tiêu đặc quyền khai thác mở của thực dân Pháp ở Việt Nam, giành lại quyền đó cho Nhà nước ta. Chính phủ còn thủ tiêu quyền khai thác kinh doanh đường xe lửa Hải Phòng - Vân Nam mà chính quyền thực dân 1 đã giao cho “Công ty Xe lửa Vân Nam” từ 1901 và quyết định giao đường xe lửa ấy cho Bộ Giao thông công chính quản lý theo cùng một chế độ với đường xe lửa Hà Nội - Sài Gòn.
Các đồn điên của thực dân Pháp bị quốc hữu hóa. Các bất động sản thuộc nhà binh Pháp trước đó được chuyển thành tài sản công của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Một mặt giành lại chủ quyền, thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào đế quốc, mặt khác Chính phủ ta cố chính sách rất thiết thực và mềm dẻo. Thực dân Pháp thống trị nước ta gần một trăm năm, nắm các vị trí chủ chốt trong kinh tế, một số ngành như điện, nước, vải sợi có ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của nhân dân, một số ngành như khai thác than, sản xuất xi măng, gạch ngói có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, nếu bị đảo lộn đột ngột, thì không tránh khỏi gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nên kỉnh tế và cho đời sấng của nhân dân. Cho nên Chính phù ta tuyên bố. tiếp tục giữ quan hệ về kinh tế với Pháp trên cơ sở thừa nhận chủ quyền của ta. Vì vậy ta cho phép một số XX nghiệp của Pháp và của tư bản nước ngoài tiếp tục kinh doanh, như các xí nghiệp điện nước ở các thành phố, công ty khai thác than ở Hông Gụi, cẩm Phả; nhà máy sợi ố Nam Định; nhà máy sản xuất gạch ở Đáp ơâu; nhà máy xi măng ở Hải Phòng; sở xăng đầu Á tế Á; một số xí nghiệp sửa chứa cơ khí ở Hà Nội, Hải Phòng v.v... nhưng Chính phủ ta tuyên bố bắt buộc họ phải tuân theo pháp luật của ta và chịu quỳền kiểm soát của ta (Sắc lệnh ngày 9-10-1945).
2. Pháp luật đặt cơ sở cho việc xây dựng chính quyền nhân dân:
Trong những ngày đàu của Cách mạng, trước khi ta có Hiến pháp, Chính phủ tá đã ra sắc lệnh tuyên bố quyền tự do bầu cử và ứng cử (Sắc lệnh ngày 8-9-1945 và Sắc lệnh ngày 17-10-1945). Đây là những quyền rất cơ bản để xây dựng Nhà nước kiểu mới, trong đó nhưng người cầm quyền là những đại biểu do nhân dân bầu ra và có thể bị nhân dân bãi miễn, khác hẳn với chế độ bô’ nhiệm do chính quyền thực dồn áp đặt vào nước ta, hoặc chế độ cha truỳên con nối của nền quân chù phong kiến.
Tiếp đó là Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945 tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính cấp tỉnh trở xuống, Sắc lệnh sô' 77 ngày 21-12-1945 tổ chức chính quyền nhãn dân ở các thị xã và thành phố.
Tháng 11-1946, Hiến pháp đàu tiên của nừớc ta đã được Quốc hội thòng qua, có hản một chương (chương V, gôm các Điều từ 57 đến 62) quy định về Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính. Hội đồng nhân dân các cấp đều do nhân dân trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Hội đồng nhân dân cử ra ủy ban hành chính, ủy viên Hội đồng nhân dân và Uy ban hành chính cố thể bị nhân dân bãi miễn. Hội đống nhân dân quyết nghị về Những vấn đê thuộc địa phương mình. Uy ban hành chính chịu trách .nhiệm đối với cấp trên và đối với Hội đồng nhân dân địa phương mình. Đây là những nguyên tắc rất cơ bản đặt nên móng bước đầu cho chính quyền cách mạng.
Những nguyên tắc đó được phát triển ngày càng đày đủ trong hai bản Hiến pháp sau này (Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm-1980).
Để, xét xử những hành vi phương hại đến nên doc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước ta đã thành lập các Tòa ận quân sự (Sắc lệnh ngày 13-9-1945, được bổ sung sau đó bằng Sắsẹ luật số 31 ngày 14-2-1946).
Các tòa án thường (từ 1950 gọi là Tòa án Nhân dân) được thành lập lại dò sắc luật số 13/SL ngày 24-1-1946, ở cấp-huyện và cấp tỉnh. Các tòa án phúc thẩm được thành lập ở ba thành phố lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn được thành lập thêm ở các khu hoặc liên khu A.
Tòa án bình được thành lập do Sắc luật số 163 ngay 23-9-1946 và Sắc lệnh số 19 ngày 16-2-1947, có nhiệm vụ xét xử các quần nhân phạm pháp và những người làm trong các cơ quần của quâri đội phạm pháp hoặc làm thiệt hại đến quân đội; Tòa án binh có Tòa án bình thường và :Tòa án binh mặt trận (được thành lập theo Thông lệnh số 11 ngày 26-12-1946 của Liên bộ Quốc phòng và Tư pháp).
Ngoài ra, loại Tòa án trên, còn có Tòa án Nhân dân đặc biệt (được thành lập năm 1953 hồi cải cách ruộng đất và bãi bỏ năm 1956).
Đó là hệ thông các tòa án của ta trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Nó thay thế hoàn toàn hệ thống các tòa án do chế độ thực‘dân phong kiến đặt ra trước đó.
3. Pháp luật quy định các quyền tự do dân chủ của công dân
Cách mạng Tháng Tám thành công, người dân Việt Nam từ địa vị nô lệ trở thành người chủ. Từ lâu, trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên sự bất công và tình cảnh của người dân thuộc địa không có những quyền tối thiểu của con người.
Trở thành Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Người quan tâm ngay đến việc công bố quyền tự do dân chủ đó. Ngay trước khi có Hiến pháp, Người đã ký một Sắc lệnh quy định về các quyền của người công dân Việt Nam. Ngoài các sắc lệnh ngày 8.9.1945 và ngày 17.1.1946 về quyền bầu cử và ứng cử đã nói ở trên, còn sắc lệnh ngày 29.3.1946, Sắc lệnh ngày 22-4-1946 về quyền tự do báo chí và tự do hội họp, Sắc lệnh ngày 13.3.1946 về quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở và thư tín, Sắc lệnh 5.1946 về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, thân thể, nhà ở và đức tín, Sắc lệnh ngày 3-5-1946 về quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
Hiến pháp 1946 dành cả một chương (chương II tại các điều từ 4 đến 21) nói về nghĩa vụ, quyền lợi công dân. Hiến pháp ghi nhận lại các quyên đã được quy định trong các Sắc lệnh vừa kể trên. Ngoài ra, Hiến pháp còn qui định nhiều quyền khác như:
- Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính, trị, kinh tế, văn hóa.(Đíêu 6); ,
- Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điểu 7);
- Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phựơng diện (Điều 9);
Các quyền tự do tín ngựỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài; quyền củạ lao động tri oc và lao động chân tay; quyền được học tập không phải trả học phí; trẻ em được chú ý về mặt giáo dựỡng; người già cả hoặc tàn tật không làm việc được thì được giúp đỡ. Một điếu rất tiên bộ nữa là Hiến pháp 1946 đã quy định: công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử.
Xuất phát từ tỉnh hình thực tế của Việt Nam, để thanh toán nạn mù chữ và nâng ,cạọ trình độ văn hóa tối thiểu của nhân dân, ngay trong ngày 8-9-1945 Hô Chủ tịch đã ký ba Sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 thành lập Nha Bình dân học vụ để chỉ đạo việc xóa nạn mù chữ: Sấc lệnh sô' 19 chó phép lập các lớp bình dân buổi tối cho nông dần và thợ thuyên: Sắc lệnh số 20 qui định việc học quốc ngữ là bắt buộc và không-mất tiên.
Tiếp đó, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 52 ngày 18-2-1946 giao cho oác Uy ban hành chính và Hội đồng nhân dân các cấp mở các lớp học quốc ngữ.
4. Pháp luật về kinh tế
Mọi người đều biết, phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra nạn đói làm chết 2 triệu đồng bào ta năm 1945 và gây ra nạn lụt ở 9 tỉnh Bắc Bộ và 3 tình miên Bắc Trung Bộ.
Để giải quyết nạn đói, phải thủ tiêu ngay những luật lệ hạn chế việc chuyên chở thóc gạo do đế quốc Pháp - Nhật đặt ra hồi trước cách mạng. Chính phủ đã ra Sắc lệnh sô' 7 ngày 5-9-1945 cho phép chuyên chở tự do thóc gạo giữa các vùng và tuyên bô' nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tích trứ thóc gạo, làm hại đến nên kinh tế, Chính phủ còn phái một ủy ban vào Nam Bộ Điều tra và cấp tốc tổ chức việc vận chuyển gạo ra Bắc; Chính phủ còn hô hào các hội buôn và tư nhân tham gia vào công việc vận chuyển này.
Ngày 28-11-1945, Hô Chủ tịch ký Sẳc lệnh sô' 67 thành lập Uy ban' tốì cao tiếp tế và cứu tế.
Ngày 22-9-1945, Người ký sắc lệnh số 70 thành lập ủy ban bảo hộ đê để chống Lụt ỉội, bảo vệ sản xụất.
Để tăng gia sản xuất, giải quyết nạn đói, Bộ Quốc dân kinh tế đã ký Nghị định số 41 ngày 15-11-1945 cấm các đíền chủ bỏ ruộng hoang, và quy định đất không đùng đến phải cho nông dân mượn để trồng màu.
Để xây dựng nền tài chính, tiên tệ độc lập, Chính phủ 'ta đã bãi bở mọi thứ thuế nô dịch:
- Thuế thân, “một thứ thuế vô lý, trái với tỉnh thần chỉnh thể cộng hòa dâh chủ” (Sắc lệnh số 11 ngày 7-9-1945);
- Thuế môn bài chính tang dưới 50 đồng ya miễn hẳn số bách phân phụ thu đối với các hạng môn bài . trẽn (Sắc lệnh ngày 27-9-1945); thuế thổ trách (Sác lệnh số 15 ngày 30-1-1946); thuế xe tay, xe đạp (Nghị định số 301/TC ngày 4-4-1946 của Bộ Tài chính);
- Đình chỉ bán thuộc phiện, cấm nấu rượu, còn dể ngăn ngừa tệ nạn xả'hội: bác bỏ các thể lệ phức tạp về kiểm soát muấi khống bắt dân nộp muôi như trước nữa, mà Chính phũ muavới giá phải chăng;
- Miễn hẳn thuế điền thổ cho những vùng bị lụt và gỊảm 20% thuế này trong toàn quốc (Nghị định số 19 ngày 26-10-1945 của Bộ Nội vụ);
Riêng đối với Nam Bộ và miên Nam Trung Bộ, do hoàn cảnh chiến tranh, Chinh phủ tạm thời đình chỉ việc thụ thuế (Sắc lệnh số 65 ngày 10-5-1946).
Sau khi xóa bỏ các thứ thụế nô dịch và bất công. Chính phù ra những văn bàn dể đặt các thư thuế hợp lý tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.Sắc lệnh đầutiênđứợc banhành về thuế khóa là Sắc lệnhsố 11 ngày 7-9-1945. Sác lệnh nêu rõ phải cải cách chế độ thuế khóa để giảm và hợp với công lý”, chế độ thụế khóa phải thống nhất trong cả nước và sẽ được thay đổi dần.
Tuy vậy, trong những ngày .đầucách mạng, việc phát hành tiên tệ1 còmnằmtetróng ĩtay' bọn thực dân. Nhà; nựớc ta chưa có ỊỈÔng tiền độclậpcủamình. Các. ngùồn thu thì mđi bắt đầu, kết quả không đáp ứng được yêu cầu của chính quyền cách mạng, y Đứng trước* những khó khăn tưởng chừng như không thể khắc phục được đó. Chính phủ đã ra sắc lệnh số 4 ngày 4-9; 1945 đặt ra quĩ độc lập với mục đích “để thu nhận các món tiên, đồ vật của. nhân dân sẵn. lòng quyên giứp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập quốc gia . Tiếp đó Chính phủ lại mở Tuần lễ Vàng bắt đầu từ Ị6 9-1945 với mục đích “thu góp số vàng trõng nhân dân và nhất la của căc nhà giàu có đễ’dùng vao việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta trong lúc này, là việc quốc phòng”. Ngày 17-9-1945. Hồ Chủ tịch gửi thư động viên đồng bào cả nước hưởng ứng “Tuần lễ Vàng”. Tiếp đố Nhà nước ta ban hành một loạt văn bản cải cách chế đọ thuế khóa để tăng thu cho ngần sách.
Dù có tăng thụ chọ ngân sách, nhưng nến đồng tiền vẫn do thực dân Pháp phát hành thì chúng vẫn có Điều kiện phá hoại’ nen kinh tế của ta dưới nhiều hình thức. Vì vậy, vấn đe cơ bản là phải phẩt hanh cho được động tiên Việt Nam.
Ngày 31-8-1946, Chính phù ban hành Sắc lệnh Số 154 SL chồ phểp riiở rôrig việc phát hầnh giấy bạc Việt Nam ra miền Bẳc Trung Bộ, từ vĩ tuyến 16 trở ra.
Đến tháng 11-1946, trong kỳ họp thứ hai, Quốc Hội đã quyet định cho phát hành: giấy bạc Việt Nám trong toàn quốc.
Đồng bạc Việt Nam được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh và tin nhiệm. Nhân dân gọi, nó với-cái tên “giấy bạc Cụ Hồ”.
Nước Việt Nam đã ’thử tiêu được đồng tiên thực dân và phát hành được đồng tiên độc lập của mình, một Điều kiện cơ bản để xây dựng riên tài chính độc lập.
Một vấn đê quan trọng nữa là Nhà nước phải giành lại chủ qụỳên về từ tay thực dân Pháp. Theo lệnh của Chính phủ, Bộ Tài chính ra Nghị định sô' 48/TC hủy bỏ Sắc lênh ngày 13-8-1941 của Tổng Thống Pháp đã được nha cằm quyên thực dân đưa vào thi hấnh ở Đống Dựơng để kiểm soát việc xuất nhạp khẩu cắn cứ vàở tình hình thiếũ lứơồg thực sau nạn đói 1945 do phát xít Nhật và thực dấn Pháp gây rà. Chính phủ tá ra Sắc ĩệnh ngàý 9-10-1945 cấm xuất khẩu ngũ cốc và các chế phẩm bằng ngũ côc. Ngàỳ 21-8-1946, Chính phủ ta còn ra Sắc lệnh cậ'm xuất khẩu máy móc, các đồ vật băng kim khí, xe hợi vàgphụ tùng xe hơi. Đây là nhưng biện pháp nhằm ngăn chặn nhưng hành động của bon nhà .buôn nước ngọàị định phá hoại nên kinh tế của ta bằng cách cho xuất ra nước ngoài những thứ chúng đang cần. Đối vói một sô' nhà buôn nước ngoài, ta vẫn cho (tiếp tục kinh doanh xuất khấu, ta :bắt họ .phải khai báo và tuân thèo pháp luật của Nhà nước ta. Cải cách về kinh tế, pháp luật của ta đã góp phần thủ tiêu sự lê thuộc vào đế quốc và từng bước xây dựng kinh tế, tài chính độc lập của ta.
5. Pháp luật thời chiến
Cách mạng tháng Tám vừa thành cộng ít ngày thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, lúc đầu ở Nam kỳ (thang 9-1945), sau đó lan rộng ra toàn quốc (tháng 12-1946). Vì vậy trong suôt thời kỷ này (từ khi bắt đầu cuộc xâm fượè của Pháp chó đến 1945 là lúc ký Hiệp định Giơnévơ)', Quốc hội ta là Quốc hội kháng chiến, Chính phủ ta là Chính phủ kháng chiến, cho nên pháp luật của ta cũng mang tính chất là pháp iuật thời chiến.
Chính phủ đã ban hành một loạt sắc lệnh:
- sắc lệnh sô' 9 ngày 6/9/1945 về trưng thu nhưng vật liệu cần cho những công việc hệ trọng hay khẩn cấp của Nhà nước;
- sắc lệnh số 66 ngày 24-11-1945 rè trưng tập các y sĩ, dược sĩ;
- Sắc lệnh số 68 ngày 30-11-1945 về trưng thủ, trưng dụng động sản và bất động sản, và trưng tập người trong thời kỳ khang chiến;
- Sắc lệnh số 126 ngày 4-11-1946 Tân đầu tiên đặt nghĩa vụ quân sự trong thời kỳ chiến tranh V.V..
Chiến tranh ngày một phát triển, nhu cầu của tuyên truyền ngày một to lớn, để đảm bào cho kháng chiến thắng lợi, phải có chính sách huy động nhân tài, vật lực một cách toàn diện. Ngày 12-2-1950, Hồ Chù tịch ký Sẳc lệnh tổng động viên, tuyên bố: “Tất cả rihân lực, vật lực, tài lực đều đặt dứđi chế độ pháp luật đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh”.
Từ 1953 trở đi, chúng ta liên tục mở các chiến dịch Iđn. Để bảo đảm việc cung cấp kịp thời chơ tiên tuyến Chính phủ tá ra lệnh tổ chức các Hội đồng cung cấp mặt trận từ Trung ương đến địa phương.
Từ 1950, chúng ta có chính sách huy động dận công cho tiên tuyến.
Từ 1951, Chính phủ ta đặt ra thuế nông nghiệp.
Nhưng pháp luật thời chiến của ta đã góp phần lập một trật tự nghiêm ngặt trọng thời chiến và bảo đàm mọi nhu èàu vệ người, về của. cung cấp cho tiên tuyến góp phần đưa cuộc - kháng chiến đến thắng lợi.
Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hô Chí Minh, Nhànước dânchủ nhân dân của ta đã hoàn thành trên một nửa nước hai nhiệm vụ cơ bản: Phản đế, chiến thắng thực dân Pháp: và phản phong, làm cách mạng ruộng đất, thực hiên khẩu hiệu “người cày có ruộng”.
Việc hoàn thành hai nhiệm vụ cơ bản này trên một nứa nước “là một thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam. Nó mố đường cho Cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn mới”. Nhà nước và pháp luật ta cũng phát triển sang một bước mới.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!