Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi - Vấn đề Bạn quan tâm Luật Minh Khuê trao đổi như sau:

Chủ thể trực tiếp tham gia quan hệ hợp đồng cho vay là những chủ thể ký kết hợp đồng vay, tạo lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý để thực hiện, bao gồm: bên cho vay và bên vay. Căn cứ vào Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 và luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có thể phân tích yếu tố chủ thể như sau:

 

1. Bên cho vay:

Đó là các tổ chức tín dụng được thành lập hợp pháp, có vốn điều lệ; người đại diện theo pháp luật phải có năng lực, am hiểu về lĩnh vực ngân hàng nhằm chuẩn hóa năng lực quản trị, điều hành. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan tài phán xác định khả năng của bên cho vay, đánh giá hiệu lực của hợp đồng cho vay được ký kết.

Các tổ chức tín dụng bao gồm các ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng:

 

1.1 Ngân hàng thương mại: 

Mô hình ngân hàng này có quy mô lớn, cung ứng đa dạng các dịch vụ cấp tín dụng. Trong đó, hoạt động cho vay (kể cả cho vay tiêu dùng) vẫn là nghiệp vụ chủ yếu với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Do chiếm tỷ trọng giao dịch cao, có tác động, ảnh hưởng mang tính hệ thống nên thủ tục cho vay của các ngân hàng này thường được tiến hành chặt chẽ, theo một quy trình tín dụng bắt buộc phức tạp. Các ngân hàng thương mại phát triển mạnh mẽ theo mô hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ đặc thù, được Nhà nước bảo đảm tự chủ ký kết hợp đồng, tự lựa chọn khách hàng, tự thỏa thuận lãi suất,... đồng thời chịu trách nhiệm về mọi hoạt động, kể cả bị phá sản như các doanh nghiệp khác nếu bị mất thanh khoản.

 

1.2 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết hoạt động của chi nhánh tại Việt Nam. Hoạt động của các ngân hàng này được Nhà nước bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh, được phép tiến hành các giao dịch vay bình đẳng như các tổ chức tín dụng trong nước.

 

1.3 Ngân hàng hợp tác xã: 

Ngân hàng hợp tác xã là loại hình ngân hàng này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mục đích chủ yếu là nhằm tương trợ giúp đỡ giữa các thành viên, khoản vay thông thường có giá trị thấp, thủ tục đơn giản.

 

1.4 Tổ chức tài chính vi mô: 

Tổ chức tài chính vi mô cấp tín dụng bằng đồng Việt Nam dưối hình thức cho vay đối với người nghèo trên địa bàn hoặc khu vực liền kề, có thể được bảo đảm bằng tiết kiệm bắt buộc, bảo lãnh của khách hàng tiết kiệm và vay vốn. Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay đối với tổ chức tài chính vi mô có quy định cấm, hạn chế cho vay đối với người có lợi ích liên quan, duy trì tỷ lệ tổng dư nợ các khoản cấp tín dụng cho các đối tượng vay trong tổng dư nợ cấp tín dụng, không thấp hơn tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước quy định. Lãi suất cho vay của tổ chức tài chính vi mô thường cao hơn các khoản vay khác để bù đắp những chi phí, tổn thất.

 

1.5 Quỹ tín dụng nhân dân: 

Hình thức tín dụng này hoạt động theo mô hình hợp tác xã, trên thực tế đã phát huy hiệu quả cho vay nhất định ở các vùng nông thôn, nơi người dân chưa có thói quen, điều kiện tiếp cận các ngân hàng. Tổ chức tín dụng loại hình này có quy mô nhỏ, không tác động, ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng.

 

1.6 Công ty tài chính: 

Có chức năng cho vay trả góp và tiêu dùng. Hoạt động của các công ty này ngày càng phát triển, có quan hệ liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp thương mại, đáp ứng phần nào nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của các cá nhân. Do chi phí cao, nhiều rủi ro nên các công ty tài chính thường đặt ra nhiều quy định ràng buộc vượt quá khả năng đối với bên vay, gây bất bình đẳng về quyền lợi hợp đồng, cũng như phản ánh của dư luận trong thời gian gần đây.

 

1.7 Công ty cho thuê tài chính: 

Hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản (tài sản này có thể là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, các động sản khác...). Công ty cho thuê tài chính chỉ cho vay bổ sung vốn lưu động đối với bên thuê tài chính.

 

2. Bên vay:

Mỗi khách hàng có những đặc thù riêng về điều kiện hình thành, nhu cầu vấn nên tư cách pháp lý của các chủ thể này cũng có sự khác biệt. Nhìn chung pháp luật dân sự, kinh tế phân chia đối tượng bên vay dựa trên năng lực pháp luật, năng lực hành vi, phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực ngành nghề.

 

2.1 Đối với tổ chức (doanh nghiệp là các pháp nhân thương mại): 

Những chủ thể này có tư cách pháp nhân, bao gồm các loại hình doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, tham gia quan hệ hợp đồng cho vay do người đại diện (theo pháp luật hoặc theo ủy quyền) thực hiện, có năng lực đẩy đủ, chấp hành đúng quy định về hình thức và nội dung ủy quyền (Điều 562-569 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Hợp đồng ủy quyền do các bên thỏa thuận được lập thành văn bản, thể hiện đầy đủ ý chí của bên ủy quyền. Trường hợp ủy quyền đơn phương do một bên thực hiện, về nguyên tắc phải được sự chấp thuận của bên nhận ủy quyền (thụ ủy), khi đó văn bản ủy quyền mới có giá trị pháp lý. Hợp đồng ủy quyền phải ghi rõ nội dung điều khoản cơ bản: bên nhận ủy quyền, bên ủy quyền, phạm vi, thời hạn ủy quyền và các quyền, nghĩa vụ khác (nếu có).

 

2.2 Đối với cá nhân

Các cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, năng lực này dựa theo độ tuổi được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời tự chịu trách nhiệm hoàn trả các khoản nợ do mình xác lập, thực hiện.

Tùy vào từng đối tượng (chủ thể) vay, các nghiệp vụ cho vay cũng khác biệt. Theo lẽ thông thường, cho vay các doanh nghiệp đòi hỏi thủ tục phải chặt chẽ hơn do vốn vay thường lớn, gắn liền với hiệu quả của dự án đầu tư, kinh doanh, thời hạn vay kéo dài, nhiều rủi ro khách quan. Đối với cho vay cá nhân (không nhằm mục đích kinh doanh), tổ chức tín dụng cần phân biệt mục đích sử dụng khoản vay nhằm phục vụ đời sông hoặc tiêu dùng, nên không cần thiết phải cung cấp các tài liệu, thông tin về hiệu quả sử dụng vốn như cho vay doanh nghiệp. Song, để bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả, ngân hàng thường áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, không cho rút tiền mặt, bảo đảm bằng chính vốn vay.

Năng lực pháp luật đối với chủ thể đi vay, ngoài các quy định trong pháp luật dân sự, doanh nghiệp, những chủ thể này còn phải đáp ứng các điều kiện vay vốn được pháp luật chuyên ngành ngân hàng quy định. Trường hợp bên vay không đáp ứng các điều kiện này, bên cho vay được quyền từ chối cho vay.

Năng lực của chủ thể vay vốn với các điều kiện cho vay theo quy định pháp luật:

Đó là các nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp, có phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính để trả nợ. Đối với vốn vay ưu đãi theo chủ trương chính sách của Nhà nước, bên vay còn phải có tài chính minh bạch, lành mạnh để được hưởng lãi suất cho vay tối ưu. Ngoài việc cấm cho vay các nhu cầu vay vốn trái pháp luật, pháp luật hiện hành còn khẳng định những nhu cầu vốn không được cho vay để trả nợ tại các tổ chức tín dụng nhằm mục đích đảo nợ, che dấu nợ (khoản 5, 6 Điều 8 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN).

Trong thực tiễn, các tổ chức tín dụng thường đưa ra một số điều kiện chi tiết phù hợp năng lực, điều kiện tài chính của tổ chức mình. Chẳng hạn, tài sản bảo đảm phải có giá trị thanh khoản (dễ mua bán, chuyển nhượng trên thị trường, ít bị biến động giá trị, khách hàng vay không có những khoản nợ khó đòi trước đó (bị một ngân hàng khác kiện đòi nợ); về khả năng tài chính, bên vay có phương án khắc phục nếu kinh doanh không hiệu quả. Với đặc điểm đa dạng của khách hàng đi vay, công tác kiểm tra tư cách pháp lý, hồ sơ vay vốn phải đáp ứng các tiêu chí đặt ra, là yêu cầu tiên quyết trước khi ký kết hợp đồng cho vay, bảo đảm về lâu dài uy tín của khách hàng thông qua ý thức thực thi hợp đồng, tuân thủ nghiêm túc nghĩa vụ trả nợ.

Ngoài các chủ thể trên, quan hệ hợp đồng cho vay có thể phát sinh những chủ thể liên quan (chỉ những chủ thể tham gia vào công tác thẩm định, bảo lãnh, mua tài sản xử lý nợ,...). Những chủ thể này tuy không ký kết hợp đồng cho vay nhưng sự tham gia của họ nhằm bảo đảm giao dịch cho vay an toàn, hiệu quả hơn, giải quyết khó khăn cho các bên, góp phần giúp cho các giao dịch được hiện theo đúng mục đích hợp đồng, đúng với các quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.