1. Cơ sở pháp lý

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017

- Thông tư số 02/2017/TT-NHNN

- Thông tư số 07/2015/TT-NHNN

- Thông tư số 42/2011/TT-NHNN

- Thông tư số 04/2013/TT-NHNN

- Thông tư số 43/2016/TT-NHNN

- Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

2. Hợp đồng tín dụng là gì?

Pháp luật ngân hàng quy định, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Như vậy, có thể hiểu rằng, hợp đồng tín dụng hay hợp đồng cấp tín dụng, bao gồm hợp đồng cho vay, hợp đồng chiết khấu, hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng bao thanh toán, hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và các hợp đồng tín dụng khác.

3. Các loại hợp đồng tín dụng theo pháp luật ngân hàng

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chỉ đề cập hai loại hợp đồng là “hợp đồng cấp tín dụng” và “hợp đồng cho thuê tài chính”, trong đó “hợp đồng cho thuê tài chính” cũng là một loại thuộc “hợp đồng cấp tín dụng”, mà không đề cập các hợp đồng tín dụng khác.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật ngân hàng hiện hành thì có các hợp đồng tín dụng (cấp tín dụng) như sau:

+ Hợp đồng bao thanh toán (TT số 02/2017/TT-NHNN)

+ Hợp đồng bảo lãnh (TT 07/2015/TT-NHNN)

+ Hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn (hay là “Hợp đồng hợp vốn”) (TT42/2011/TT-NHNN)

+ Hợp đồng chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá; (TT 04/2013/TT-NHNN)

+ Hợp đồng cho thuê tài chính (Nghị định 39/2014/NĐ-CP)

+ Hợp đồng cho vay (TT 21/2012/TT-NHNN)

+ Hợp đồng cho vay đặc biệt (TT 01/2018/TT-NHNN)

+ Hợp đồng cho vay tiêu dùng (TT 43/2016/TT-NHNN)

+ Hợp đồng tín dụng (TT 42/2017/TT-NHNN;Nghị định 32/2017/NĐ-CP; TT 18/2015/TT-NHNN)

+ Hợp đồng tín dụng tái cấp vôn (hay “Hợp đồng tái cấp vôn”). (Thông tư 24/2019/TT-NHNN)

+ Thỏa thuận cho vay. (TT 39/2016/TT-NHNN)

Các hợp đồng và thỏa thuận nêu trên chính là “hợp đồng tín dụng” nói chung, mà không cần phải gọi là “hợp đồng cấp tín dụng”, nếu như xác định rõ hợp đồng tín dụng là hợp đồng cho vay.

4. Pháp luật về xét duyệt tín dụng

Có nhiều người cho rằng, khách hàng chỉ cần vay một vài trăm, thậm chí vài chục triệu đồng, đã thế chấp nhà đất có giá trị lớn, nhưng các ngân hàng thương mại vẫn đòi hỏi phương án vay vốn.

Theo quy định của pháp luật, để cho vay đối với khách hàng, thì tổ chức tín dụng phải xét duyệt tín dụng. Chỉ có hoạt động cầm đồ mối cho vay dựa vào tài sản cầm cố mà không cần xem xét phương án vay vốn, mục đích sử dụng vốn vay và khả năng trả nợ của khách hàng.

Pháp luật quy định một trong những nguyên tắc trong cho vay của các tổ chức tín dụng là: khách hàng vay vốn “phải bảo đảm sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn” (khoản 2 Điều 4 Thông tư 39/2016/TT-NHNN). Tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng, đồng thời phải tổ chức xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng. (Khoản 1, 2 Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)

Có thể hiểu đơn giản, xét duyệt tín dụng là việc xem xét và phê duyệt tín dụng, bao gồm cả việc thẩm định và quyết định tín dụng. Do đó, pháp luật quy định về việc xét duyệt, thẩm định, phê duyệt và quyết định tín dụng như sau:

Thứ nhất, đối với cho vay nói chung, tổ chức tín dụng thẩm định khả năng đáp ứng các điều kiện vay vốn của khách hàng để xem xét quyết định cho vay. Tổ chức tín dụng phải tổ chức xét duyệt cho vay theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay;

Thứ hai, đối với cho vay tiêu dùng, công ty tài chính phải ban hành quy định nội bộ về cho vay tiêu dùng được thực hiện thống nhất trong toàn hệ thông và phải có một trong các nội dung cụ thể là quy trình thẩm định, phê duyệt và quyết định cho vay, trong đó quy định cụ thể thời hạn tối đa thẩm định, quyết định cho vay; phân cấp, ủy quyền và trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong việc thẩm định, phê duyệt, quyết định cho vay và các công việc khác thuộc quy trình hoạt động cho vay;

Thứ ba, đối với bảo lãnh ngân hàng, tổ chức tín dụng phải ban hành quy định nội bộ về nghiệp vụ bảo lãnh đối với tổ chức, cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không cư trú phù hợp với quy định về cấp tín dụng, “trong đó phải phân định giữa khâu thẩm định và xét duyệt cấp bảo lãnh”. (khoản 1 Điều 26 Thông tư 07/2015/TT-NHNN)

Thứ tư, đối với chiết khấu giấy tờ có giá, tổ chức tín dụng phải thực hiện xét duyệt chiết khấu theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định thực hiện hoạt động chiết khấu.

Thứ năm, đối với bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán phải có quy định nội bộ về bao thanh toán, trong đó phải có nội dung cụ thể về quy trình thẩm định, phê duyệt, quyết định bao thanh toán. Đơn vị bao thanh toán phải tổ chức xét duyệt bao thanh toán theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định bao thanh toán.

Thứ sáu, tổ chức tín dụng có quyền tự chủ trong hoạt động cấp tín dụng và tự chịu trách nhiệm về quyết định cấp tín dụng của mình; có quyển từ chối các yêu cầu của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện, không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật và không đúng thỏa thuận cấp tín dụng. Không tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng. (Điểm b khoản 2 Điều 5, Khoản 2 Điều 13 Thông tư 02/2017)

Nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng đã được đưa vào Luật Các tổ chức tín dụng từ năm 1997. Thế nhưng hiểu thế nào là khâu “thẩm định” và thế nào là “quyết định” đối vối lĩnh vực tín dụng ngân hàng thì lại chưa có văn bản giải thích. Do vậy, trên thực tế, mỗi ngân hàng hiểu và làm một cách khác nhau. Có một số ngân hàng quy định rõ ba khâu quản lý, thẩm định và quyết định cho vay tách bạch riêng.

Trong quá trình thẩm định tín dụng, tổ chức tín dụng được sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, kết hợp với các thông tin tại Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC, trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), các kênh thông tin khác. (Điều 17 Thông tư 39/2016/TT-NHNN)

5. Quy định pháp luật về giới hạn cấp tín dụng

Thưa luật sư, theo em được biết, khi vay tại ngân hàng sẽ có một hạn mức nhất định. Vậy luật sư giải đáp giúp em quy định pháp luật về giới hạn cấp tín dụng ạ. Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Xin cảm ơn!

Giới hạn tín dụng là vấn đề đặc biệt quan trọng để bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Có nhiều mức giói hạn khác nhau về tín dụng như giới hạn tín dụng nói chung và các giối hạn nói riêng về cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, cho thuê tài chính.

Luật quy định, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đốỉ tượng sau không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

Thứ nhất, tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên, thanh tra viên đang kiểm toán, thanh tra tại tổ chức tín dụng;

Thứ hai, kế toán trưởng của tổ chức tín dụng, Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng quản trị, Trưỏng ban và thành viên khác của Ban kiểm soát, Giám đốc, Phó giám đốc và các chức danh tương đương của quỹ tín dụng nhân dân;

Thứ ba, cổ đông lớn, cổ đông sáng lập của tổ chức tín dụng;

Thứ tư, doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 về “Những trường hợp không được cấp tín dụng” của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;

Luật quy định, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đốĩ với mỗi công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 10% và đối với tất cả các đối tượng này không được vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức tín dụng;

Thứ năm, người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng.

Từ năm 2010 trở về trước, Luật quy định về giới hạn tín dụng đôì với mỗi tổ chức tín dụng gồm ba thành phần sau đây:

Thứ nhất, tổng dư nợ cho vay đốĩ với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng;

Thứ hai, mức bảo lãnh, chiết khấu đối với một khách hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định;

Thứ ba, mức cho thuê tài chính đôì vối một khách hàng thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Theo quy định trên, giới hạn “số dư cấp tín dụng” đối với mỗi khách hàng có thể lên đến trên 55%, bao gồm bốh hoạt động cấp tín dụng sau: 15% dư nợ cho vay, 15% số’ dư bảo lãnh (gộp chung thì giảm xuống còn 25%), 15% số dư chiết khấu và 15% số dư bao thanh toán (chưa kể dư nợ cho thuê tài chính và việc mua trái phiếu doanh nghiệp). Trong đó, chỉ có số dư cho vay được gọi là “dư nợ”, còn số’ dư bảo lãnh, nếu bị chuyển thành dư nợ thì đã chuyển thành hoạt động cho vay bắt buộc (khi đó tính chung vào giối hạn 15% của dư nợ cho vay).

Từ năm 2011 trở đi, Luật quy định: “tổng mức dư nợ cấp tín dụng đôì với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô” (25% đôì với tổ chức tín dụng phi ngân hàng)1. Nếu đúng theo quy định về dư nợ và số dư cấp tín dụng, thì giới hạn 15% “tổng mức dư nợ cấp tín dụng” này chỉ gồm ba nghiệp vụ dư nợ cho vay, cho thuê tài chính (được gọi là dư nợ) và mua, đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp. Các “số dư” tín dụng khác không phải là “dư nợ”, nên phải nằm ngoài tổng mức giới hạn 15% kể trên.

Tuy nhiên, giới hạn an toàn hoạt động ngân hàng lại được quy định như sau: “tổng mức dư nợ cấp tín dụng bao gồm tổng số’ dư nợ cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, tổng mức mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, các nghiệp vụ cấp tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.

Như vậy, quy định trên đã dồn tất cả các “số’ dư” thành “dư nự’ và do vậy, tổng giới hạn cấp tín dụng đã chính thức đã bị giảm từ 55% xuôhg còn 15% đôì với mỗi khách hàng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Pháp luật về cấp tín dụng, xét duyệt tín dụng và giới hạn cấp tín dụng".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)