1. Khái niệm đối thoại xã hội
Tổ chức Lao động quốc tế ghi nhận quyền đối thoại xã hội của các bên quan hệ lao động tại Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998. Trên cơ sở khái quát các quá trình và thực tiễn đối thoại xã hội ở các quốc gia, Tổ chức Lao động quốc tế đưa ra định nghĩa:
“Đối thoại xã hội bao gồm tất cả các hình thức thương lượng, tham vẩn hoặc chỉ đơn giản là sự trao đổi thông tin giữa đại diện của chỉnh phủ, người sử dụng lao động và người lao động về những vẩn đề lợi ích chung liên quan đến các chính sách kinh tế, xã hội’’.
Qua định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế, có thể thấy đối thoại xã hội được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như thương lượng, tham vấn (tham khảo ý kiến), trao đổi thông tin.
2. Nội dung của đối thoại xã hội
Tại Việt Nam, quy định về nội dung đối thoại tại doanh nghiệp đã được luật hóa và quy định cụ thể tại Nghị định 06/2013/NĐ-CP ban hành ngày 19/6/2013 về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nơi làm việc cụ thể như sau:
- Người lao động tham gia ý kiến: Xây dựng, bổ sung,sửa đổi, bổ sung nội quy, quy chế phải công khai tại doanh nghiệp; Các giải pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, an toàn vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường,... xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp,nghành,...Nghị quyết hội nghị người lao động; Quy trình giải quyết tranh chấp, xử lý kỉ luật lao động...,nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ lao động theo quy định của pháp luật.
-Người lao động quyết định; Giao kết hợp đồng lao động, thực hiện, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; Nội dung thương lượng thỏa ước lao động tập thể các cấp; Thông qua nghị quyết hội nghị người lao động; gia nhập hoặc không gia nhập tổ chức công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định pháp luật; tham gia hoặc không tham gia đình công, các nội dung khác..
-Người lao động kiểm tra, khiem sát: Thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phòng ban,...Thực hiện hợp đồng lao động, chế độ, chính sách đối với người lao động theo quy trình của pháp luật; thực hiện các nội dung, quy chế, quy định phải công khai với doanh nghiệp; Thực hiện các thỏa ước lao động tập thể các cấp; Thực hiện nghị quyết hội nghị người lao động, nghị quyết hội nghị tổ chức công đoàn cơ sở; trích lập và sử dụng quỹ khen thưởng... các quỹ do người lao động đóng góp, trích nộp làm kinh phí công đoàn, đóng các loại bảo hiểm, tình hình khen thưởng, khiếu nại tố cáo và giải quyết khiếu nại, thực hiện các điều lệ doanh nghiệp và các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
3. Vai trò
Đối với người lao động
Ưu điểm
+Đối thoại xã hội giúp khẳng định vị trí, vai trò của người lao động trong doanh nghiệp thông qua việc người lao động nắm được thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
+Người lao động được trình bày ý kiến, quan điểm của bản thân về kế hoạch, chính sách của doanh nghiệp
+ Tạo không gian làm việc thoải mái, năng suất cho người lao động
+ Người lao động được coi là một đối tác bình đẳng với bên người sử dụng lao động khi thương lượng về các vấn đề quyền lợi, điều kiện làm việc..
Nhược điểm
+ Nhận thức vai trò , sự cần thiết của đối thoại xã hội còn chưa đầy đủ của người lao động
+Doanh nghiệp sẽ khó đồng nhất quan điểm của người lao động trong công ty
+ Tiến độ thực hiện công việc sẽ bị giảm vì quá trình trưng dụng ý kiến diễn ra tốn thời gian
+ Sẽ dễ xảy ra xung đột giữa người lao động với nhau trong doanh nghiệp
Đối với người sử dụng lao đông
Ưu điểm
+ Tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh
+ Nhận biết được ưu, nhược điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Lập kế hoạch, thời gian, vị trí làm việc đối với người lao động hợp lý
+ Không bị vướng mắc vào các vấn đề giải quyết quan hệ lao động
+ Tăng cường chia sẻ lợi ích, thông tin với người lao động
+ Xác lập trách nhiệm rõ ràng đối với người lao động
+ Qua đối thoại người lao động và người sử dụng lao động có thể gần gũi thân thiết với nhau hơn
+ Hiểu được tâm tư tình cảm thì người sử dụng lao động sẽ đưa ra được những chính sách phù hợp và tốt nhất cho cả 2 bên
Nhược điểm
+ Nhiều lúc việc đối thoại còn nhiều thiếu sót có thể dẫn đến mâu thuẫn
+ Nhiêu cuộc đối thoại kéo dài sẽ ảnh hưởng tới thời gian và tiến độ công vịêc
4.Ý nghĩa của đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể đối với quan hệ lao động
Thực hiện đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể là phương pháp tốt nhất nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong từng doanh nghiệp. Thông qua đối thoại và thương lượng tập thể sẽ giúp cho người sử dụng lao động và người lao động hiểu nhau hơn; thông cảm và chia sẻ thông tin để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra.
Qua đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể, người lao động và người sử dụng lao động thêm gần gũi, thân thiện và tin tưởng nhau hơn. Hiểu được những tâm tư, nguyện vọng của người lao động, người sử dụng lao động tìm hướng giải quyết một cách thoả đáng, kịp thời sửa chữa những thiếu sót có thể mắc phải trong khâu điều hành, quản lý doanh nghiệp, đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của người lao động. Người sử dụng lao động truyền đạt đến người lao động những thông tin đầy đủ, giúp họ hiểu thêm về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, về khả năng tiêu thụ sản phẩm làm ra, về tiền lương, cách tính thưởng… Và một khi người lao động thoả mãn những thông tin mà họ cần biết, họ sẽ an tâm, hăng hái lao động sản xuất, tích cực đầu tư công sức để không ngừng cải tiến sản xuất, nâng cao năng suất lao động nhằm tạo thêm thu nhập cho bản thân và tăng doanh thu cho doanh nghiệp.
Có nhiều nguyên nhân đưa đến những vụ lãn công, ngừng việc tập thể tạm thời đã từng diễn ra ở một số doanh nghiệp, mà trong đó, nguyên nhân sâu xa nhất vẫn là sự thiếu thông tin giữa các bên tham gia quan hệ lao động. Không thoả mãn về những vấn đề cần phải được biết, người lao động dễ bị những thông tin lệch lạc chi phối, dẫn đến những hành động không đúng với qui định của pháp luật về đình công, gây phương hại cho doanh nghiệp và cho cả lợi ích của bản thân họ. Không nắm được đầy đủ những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng từ tập thể lao động, chắc chắn những nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có nhiều thiếu sót khi đưa ra những quyết định quản lý của mình. Vì vậy, chỉ có thông qua đối thoại tại doanh nghiệp và thương lượng tập thể một cách thường xuyên, người sử dụng lao động mới có những quyết sách đúng đắn, được sự đồng thuận cao của tập thế lao động, tạo ra một động lực mạnh mẽ để người lao động làm việc một cách hăng hái, nhiệt tình vì lợi ích của họ và của cả doanh nghiệp.
Thực hiện tốt đối thoại tại nơi làm việc, và thương lượng tập thể với người lao động, doanh nghiệp không những chấp hành tốt qui định của pháp luật lao động mà còn đem lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên: người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình tham gia quan hệ lao động. Chỉ có thực hiện tốt đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể với người lao động mới thật sự xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong từng doanh nghiệp.
5. Quy định về thời gian đối thoại
Theo quy định Khoản 2, 3 Điều 63 Bộ luật lao động 2019 về tiến hành đối thoại tại nơi làm việc:
2. Người sử dụng lao động phải tổ chức đối thoại tại nơi làm việc trong trường hợp sau đây:
a) Định kỳ ít nhất 01 năm một lần;
b) Khi có yêu cầu của một hoặc các bên;
c) Khi có vụ việc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36, các điều 42, 44, 93, 104, 118 và khoản 1 Điều 128 của Bộ luật này.
3. Khuyến khích người sử dụng lao động và người lao động hoặc tổ chức đại diện người lao động tiến hành đối thoại ngoài những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Theo quy định của luật này, thì đối thoại tại nơi làm việc mang tính bắt buộc. Việc tiến hành đối thoại được thực hiện theo một trong hai hình thức: đối thoại định kỳ tại nơi làm việc hoặc đối thoại theo yêu cầu của một trong các bên của quan hệ lao động (hay còn gọi là đối thoại đột xuất).
Thứ nhất: Về đối thoại định kỳ:
Là các cuộc đối thoại được tiến hành định kỳ theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện tốt hơn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.
– Nội dung đối thoại: Công đoàn cơ sở cần nghiên cứu, lựa chọn những nội dung đối thoại phù hợp với đặc thù, tình hình doanh nghiệp, ưu tiên các nội dung liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người lao động để đưa vào nội dung đối thoại như: Tiền lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chất lượng bữa ăn giữa ca, tình hình thực hiện chế độ chính sách về BHXH, BHYT, BHTN, trách nhiệm của các bên trong việc tổ chức thực hiện kết quả đối thoại… để đưa vào nội dung đối thoại định kỳ.
– Số lượng, thành phần tham gia đối thoại: Do công đoàn cơ sở và người sử dụng lao động lựa chọn nhưng phải đảm bảo ít nhất mỗi bên có 3 thành viên tham gia đối thoại. Nguyên tắc chung, công đoàn cơ sở lựa chọn số người tham gia đối thoại nhiều hơn phía người sử dụng lao động.
– Tiêu chuẩn thành viên đại diện cho người lao động hoặc công đoàn cơ sở tham gia đối thoại: Do ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể người lao động quyết định. Đại diện người lao động phải là những thành viên có hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên, am hiểu về pháp luật lao động, công đoàn, chế độ, chính sách lao động, việc làm, tình hình doanh nghiệp, có khả năng thuyết phục và được người lao động tín nhiệm.
Thứ hai: Về đối thoại đột xuất
– Là cuộc đối thoại được thực hiện theo yêu cầu của một trong các bên hoặc đại diện của các bên trong quan hệ lao động nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp thiết, ổn định tình hình sản xuất, kinh doanh, tránh xung đột dẫn đến tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể, đình công tại doanh nghiệp.
– Số lượng, thành phần, tiêu chuẩn tham gia đối thoại đột xuất thực hiện như đối thoại định kỳ nhưng quy trình, thủ tục, thời gian cần nhanh, gọn, khẩn trương hơn. Đối thoại đột xuất cần tránh để bên yêu cầu đối thoại phải chờ đợi, tạo ra những bức xúc trong quá trình giải quyết. Thời hạn trả lời đối thoại của bên được đề xuất tối đa không quá 24 giờ kể từ khi một bên gửi yêu cầu đối thoại cho bên kia.
Khi tiến hành đối thoại tại nơi làm việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí địa điểm cũng như điều kiện khác để cuộc đối thoại được thực hiện trên thực tế. Nghĩa vụ này xuất phát từ thực tiễn về điều kiện của người sử dụng lao động, bởi trong quan hệ lao động, bên người sử dụng lao động mới có đủ khả năng bảo đảm những điều kiện này.