1. Khái quát về pháp luật và hệ thống tư pháp Italia

Hệ thống tư pháp Ý dựa trên luật La Mã, được bộ luật Napoléon và các đạo luật sau này phỏng theo. Toà án Tối cao Ý xét xử phúc thẩm cả các vụ án hình sự và dân sự. Toà án Hiến pháp Ý (Corte Costituzionale) ra quyết định về tính phù hợp của luật với hiến pháp, đây là một cơ cấu mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Kể từ khi xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX, tội phạm có tổ chức và các tổ chức tội phạm tại Ý đã xâm nhập sinh hoạt xã hội và kinh tế của nhiều khu vực tại miền nam Ý, nổi danh nhất trong số đó là Mafia Sicilia, liên minh này về sau phát triển ra một số quốc gia khác như Hoa Kỳ. Các khoản thu của Mafia có thể chiếm đến 9% GDP của Ý.

Một báo cáo vào năm 2009 xác định Mafia hiện diện mạnh tại 610 xã, tổng dân số các xã này là 13 triệu và chiếm 14,6% GDP của Ý. Băng đảng 'Ndrangheta tập trung tại vùng Calabria có lẽ là tổ chức tội phạm mạnh nhất hiện nay tại Ý, chiếm đến 3% GDP toàn quốc. Tuy nhiên, với 0,013 vụ trên 1.000 dân, Ý chỉ có tỷ lệ giết người cao thứ 47 trong một khảo sát gồm 62 quốc gia.

Thực thi pháp luật tại Ý là nhiệm vụ của nhiều lực lượng cảnh sát. Polizia di Stato (cảnh sát nhà nước) là cảnh sát quốc gia dân sự của Ý. Ngoài các nhiệm vụ tuần tra, điều tra và thực thi pháp luật, họ còn tuần tra hệ thống đường cao tốc, giám sát an toàn của đường sắt, cầu và đường thuỷ. Carabinieri là tên gọi phổ biến của Arma dei Carabinieri, một quân đoàn quân sự giống như hiến binh và họ có các nhiệm vụ cảnh sát. Họ cũng giữ vai trò là quân cảnh của lực lượng vũ trang Ý. Guardia di Finanza (bảo vệ tài chính) là lực lượng nằm dưới quyền của Bộ Kinh tế và Tài chính, có vai trò của lực lượng cảnh sát, chịu trách nhiệm về an toàn tài chính, kinh tế, tư pháp và công cộng. Polizia Penitenziaria (cảnh sát trại cải tạo) điều hành hệ thống nhà tù Ý và quản lý việc vận chuyển tù nhân.

2. Pháp luật lao động Italia

Thị trường lao động của Italia đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do tác động của khủng hoảng kinh tế và vấn đề nợ công. Số lượng doanh nghiệp vừa nhỏ chiếm tỷ lệ cao, tính linh hoạt của loại hình doanh nghiệp này đã bị hạn chế do sự thay đổi chậm chạp của các chính sách quản lý vĩ mô dẫn đến nhiều hệ lụy như: Cơ hội việc làm suy giảm; tính ổn định và an toàn của việc làm bị ảnh hưởng mạnh; khả năng tiếp cận thị trường và việc làm của người lao động ngày một khó khăn hơn…

Italia đang đẩy mạnh quá trình cải cách chính sách về lao động, thị trường lao động và an sinh xã hội. Việc cải cách tập trung nhiều đến các vấn đề về tuổi nghỉ hưu và tính bền vững tài chính Quỹ hưu trí bởi tác động của tỷ lệ già hóa tăng nhanh, tỷ lệ đóng hưởng bảo hiểm hưu trí chưa hợp lý, tỷ lệ thất nghiệp cao (khoảng 9%), tỷ lệ lao động trẻ khá lớn (chiếm 40%)… và đời sống xã hội biến động do khủng hoảng kinh tế trầm trọng.

Quá trình cải cách tập trung vào sửa đổi pháp luật lao động, trong đó chú trọng hợp đồng lao động dài hạn linh hoạt, đa dạng các chế độ an sinh xã hội nhằm mục tiêu xây dựng thị trường lao động ổn định và bảo vệ người lao động tốt hơn. Nội dung cốt lõi của cải cách nhằm hướng tới bảo đảm an sinh xã hội và nhấn mạnh bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với bảo hiểm thất nghiệp, Chính phủ đã đưa ra các loại hình đa dạng hơn (bảo hiểm thất nghiệp thông thường, bất thường, khi bị sa thải và ngoại lệ) kèm theo là những điều kiện, yêu cầu cụ thể ràng buộc chặt chẽ về loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề … thay đổi tùy thuộc vào điều kiện thực tế từng năm. Mục tiêu của chế độ này là tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ và tiếp cận dịch vụ, hỗ trợ đào tạo lại, trong đó quan tâm đến lao động nữ.

Mặc dù là một trong những nước phát triển ở châu Âu, song Italia đang phải đối mặt với những khó khăn về sự khác biệt giữa các vùng miền và vấn đề giới trong thị trường lao động. Tiền lương tháng trung bình của nữ giới cũng luôn thấp hơn nam giới khoảng 30% (892 Euro đối với nữ và 1.058 Euro đối với nam), các quá trình tuyển dụng lao động vẫn còn phân biệt đối xử. Về tuổi nghỉ hưu, pháp luật quy định lao động nữ có thể về hưu sớm hơn năm giới 5 tuổi, nhưng trên thực tế cho thấy ở khu vực tư nhân thường là như nhau còn khu vực nhà nước là 65 tuổi đối với nam và đối với nữ là 60 tuổi.

Qua trao đổi, cho thấy việc cải cách cơ bản được xã hội chấp nhận, song rất khó khăn đối với cải cách thị trường lao động.

Pháp luật cho phép các tổ chức đại diện trong quan hệ lao động hoạt động tự do, các cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp sâu vào hoạt động cụ thể. Ngoài thỏa ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp thì thỏa ước lao động cấp ngành (quốc gia) và khu vực rất được chú trọng (khu vực nông nghiệp và công nghiệp). Cơ quan quản lý nhà nước chỉ giữ vai trò chính trong việc hỗ trợ các bên và can thiệp trong hai trường hợp: khi có yêu cầu của một trong hai bên (đại diện người lao động và đại diện giới chủ), khi pháp luật yêu cầu (trường hợp đình công với quy mô lớn do công đoàn tổ chức).

Đối với thỏa ước lao động tập thể cấp ngành và quốc gia, nội dung chủ yếu đó là tiền lương tối thiểu, còn thỏa ước lao động cấp doanh nghiệp là cụ thể hóa các thỏa thuận về điều kiện làm việc, tiền lương, an toàn lao động. Song điểm đặc biệt trong quan hệ giữa thỏa ước lao động cấp doanh nghiệp và ngành là: thỏa thuận về tiền lương trong thỏa ước lao động cấp doanh nghiệp có thể thấp hơn thỏa ước lao động cấp ngành và quốc gia. Ngoài ra, Italia cũng khác biệt với nhiều quốc gia khác khi quy định các nội dung của hợp đồng lao động không bắt buộc phải cao hơn hay tuân thủ thỏa ước lao động tập thể. Quy định này xuất phát từ quan điểm của các nhà lập pháp cho rằng ở cấp cơ sở, doanh nghiệp và người lao động hiểu hơn ai hết các điều kiện làm việc, khả năng cụ thể của hai bên để tự do lựa chọn những thỏa thuận phù hợp. Mặt khác, theo quan niệm lập pháp của Italia thì luật lao động thuộc hệ thống luật tư dựa trên nền tảng thỏa thuận giữa hai bên.

Quyền đình công ở Italia được bảo vệ bằng Hiến pháp. Tuy vậy, trên thực tế công đoàn hầu như không muốn luật quy định quá chi tiết về quản lý đình công nhằm mở rộng quyền tự do gây áp lực đối với giới chủ qua công cụ đình công. Pháp luật quy định hạn chế đình công ở một số ngành như: giao thông công cộng, y tế, giáo dục… nếu những ngành này đình công thì phải có mục đích rất rõ ràng và tuân theo quy trình chặt chẽ, có sự thỏa thuận rất cụ thể giữa ba bên (người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước). Một số ngành nghề không được phép đình công hoàn toàn như cấp cứu và nếu vi phạm sẽ có một hội đồng độc lập do Hạ viện hoặc Thượng viện thành lập để xem xét.

Đối với vai trò của Công đoàn trong quan hệ lao động, giữ vai trò là đại diện cho người lao động, tham gia cùng với nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật, thiết lập cơ chế đối thoại tại doanh nghiệp và tham gia mạnh mẽ trong các vấn đề liên quan đến bảo hiểm xã hội. Song khác với nhiều nước, công đoàn ở Italia có quyền trình các dự án luật. Quy định của pháp luật lao động Italia hướng tới bảo vệ người lao động rất mạnh mẽ, nhất là sau khi sửa đổi luật lao động vào năm 1966 (Luật lao động Italia ban hành năm 1942) bằng việc quy định đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi người lao động bị sa thải mà cảm thấy không công bằng thì có thể khiếu nại để phải được nhận lại làm việc hoặc nhận bồi thường 15 tháng tiền lương. Quy định này sau đó (năm 1990) được áp dụng đối với người lao động làm việc tại các doanh nghiệp lớn nhưng mức bồi thường chỉ tương ứng với 6 tháng tiền lương.

3. Pháp luật về an sinh xã hội Italia

Italia quan tâm đến một số nội dung lớn về cải cách trong pháp luật lao động: Hài hòa hóa pháp luật quốc gia với EU; Tiền lương; An toàn và vệ sinh lao động; Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Chống phân biệt đối xử; Cho thuê lại lao động; Bảo hiểm xã hội linh hoạt.

Trọng tâm của pháp luật về an sinh xã hội là chế độ hưu trí. Luật quy định cụ thể việc nhà nước bảo đảm đối với mức an sinh tối thiểu (Safety Net), tuổi hưởng lương hưu là 65 đối với nam và 60 đối với nữ, hiện nay có khoảng 25-30 triệu lao động của Italia được hưởng chế độ này. Italia đang có nhiều lực lượng vận động để quy định tuổi nghỉ hưu như nhau giữa nam và nữ (65 tuổi). Nguyên tắc tổ chức mạng lưới an sinh xã hội dựa trên lý thuyết căn bản là bảo đảm thu nhập và bù đắp phần còn thiếu so với mức sống tối thiểu thực tế. Chính vì vậy, điều kiện để được hưởng chế độ hỗ trợ lương hưu (bù đắp thu nhập) chỉ dành cho những người lao động trong các doanh nghiệp khi gặp khó khăn hoặc khủng hoảng kinh tế. Bên cạnh đó, còn có nhiều chế độ trợ cấp, hỗ trợ như: trợ cấp chuyển việc làm, tìm việc làm; hỗ trợ thu nhập khi bị sa thải; hỗ trợ người lao động không có hợp đồng lao động chính thức (nhưng thường xuyên làm việc cho doanh nghiệp qua các hợp đồng cung ứng dịch vụ…).

Mức đóng các chế độ bảo hiểm xã hội rất cao vào khoảng 39% tiền lương của người lao động nói chung, riêng đối với lao động nữ và thanh niên khoảng 29%, mức hưởng tối đa chỉ bằng 60% tiền lương và chỉ được lĩnh tiền lương hưu sau ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm xã hội.

Điểm nổi bật chính là quá trình thay đổi quan điểm và phương pháp tiếp cận, Chính phủ phải quan tâm và chủ động hỗ trợ thông qua các chế độ trợ cấp cho người không có việc làm tạm thời để giúp họ có cơ hội quay lại thị trường lao động, năng động hơn trong tiếp cận các dịch vụ (đào tạo, cung cấp thông tin).

4. Bình đẳng giới

Hệ thống pháp luật quy định bảo vệ lao động nữ và có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng được đánh giá là khá tốn kém. Theo khuyến nghị của EU thì vấn đề cốt lõi phải bảo đảm cung cấp cơ hội bình đẳng chứ không thuần túy là các chế độ phúc lợi đặc thù cho lao động nữ. Quy định pháp luật của Italia cũng như EU về tiền lương là khá bình đẳng. Chế độ nghỉ thai sản khi sinh con, được nghỉ trước sinh 2 tháng và sau khi sinh 3 tháng (hưởng đủ lương), sau đó nếu muốn tiếp tục nghỉ thì tối đa là 1 năm và tiền lương được hưởng thấp hơn.

5. Hội đồng quốc gia về kinh tế và lao động

Hội đồng quốc gia về kinh tế và lao động (CNEL) là mô hình được khoảng 70 quốc gia trên thế giới áp dụng nhằm thúc đẩy cơ chế đại diện và tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, xây dựng chính sách của nhà nước. Đây là tổ chức có chức năng tư vấn cho Chính phủ, Quốc hội và các vùng, tỉnh trên cơ sở yêu cầu của các cơ quan này về các vấn đề kinh tế – xã hội. Ở Italia Hội đồng hoạt động trên cơ sở quy định Điều 99 của Hiến pháp (năm 1957) và các Luật số 936 (năm 1986), Luật số 383 (năm 2000).

Hội đồng tham gia vào các quá trình xây dựng chính sách, pháp luật thông qua việc tiến hành các nghiên cứu, điều tra, gửi báo cáo, khuyến nghị về các vấn đề liên quan đến xu hướng của thị trường lao động ở cấp quốc gia, vùng, ngành, địa phương. Điều này nhằm bảo đảm thực hiện các quy định về việc xây dựng và ban hành pháp luật dựa trên cơ sở bằng chứng khoa học của EU và có giá trị rất lớn khi trình các dự án luật cho Quốc hội.

Hội đồng đã cung cấp hàng ngàn báo cáo, tài liệu khác nhau phản ánh các xu thế biến động, thay đổi về kinh tế – xã hội, dự báo xu hướng tương lai về nhiều vấn đề, lĩnh vực trong đó nổi lên là quá trình chuyển đổi công nghiệp hóa, di cư, nhập cư … để làm được điều này, Hội đồng huy động lực lượng chuyên gia trong cả nước ở nhiều lĩnh vực khác nhau, tham vấn ý kiến công chúng và các kết quả, nhận định đều được so sánh với xu hướng của khu vực hay toàn cầu. Quá trình hoạt động của Hội đồng cho thấy việc thay đổi chính sách phải luôn gắn với sự đồng thuận cao trong xã hội.