1. Truy cứu TNHS đối với người không có tội phạt bao nhiêu năm tù?
Theo Điều 368 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, người có thẩm quyền thực hiện hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà mình biết rõ là không có tội có thể bị phạt tù theo các quy định cụ thể. Theo Điều 368 BLHS năm 2015, đặc biệt là nội dung mô tả các dấu hiệu định khung hình phạt: “Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng”, “dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” và trong mối tương quan giữa tội này với tội “Ra bản án trái pháp luật” (Điều 370 BLHS năm 2015), thì hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 368 BLHS năm 2015) không bao gồm việc kết án (đối với người không có tội). Nói cách khác, người có thẩm quyền thực hiện hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội chỉ là người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng hình sự theo quy định tại các điều 153, 163, 164 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015. Đó là người có thẩm quyền ra các quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra đề nghị truy tố và người có thẩm quyền ra quyết định truy tố (bị can) theo quy định tại các Điều 179, 232, 236 BLTTHS năm 2015.
Theo khoản 1 của Điều 368, người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, nếu phạm tội thuộc một trong những trường hợp cụ thể được liệt kê trong khoản 2, hình phạt có thể tăng lên. Cụ thể, phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự với những người không có tội trong các trường hợp như xâm phạm an ninh quốc gia, đối với nhiều người, đối với trẻ em, phụ nữ mang thai, người già yếu, gây rối loạn tâm thần và hành vi, dẫn đến kết án oan, và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, có thể bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
Nếu hành vi của người có thẩm quyền nằm trong các trường hợp chi tiết trong khoản 3, thì hình phạt tù có thể lên đến từ 10 năm đến 15 năm. Những trường hợp này bao gồm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với 06 người trở lên, dẫn đến kết án oan với tội phạm nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, gây rối loạn tâm thần và hành vi với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, và làm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan tự sát.
Ngoài ra, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, dựa trên quy định nêu trên, người có thẩm quyền thực hiện hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà mình biết rõ là không có tội có thể phải đối mặt với mức hình phạt tù từ 01 năm đến 15 năm, tùy thuộc vào tính chất và nghiêm trọng của hành vi vi phạm
2. Truy cứu TNHS đối với người không có tội có áp dụng hình phạt
Theo Điều 368 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, quy định rõ về tội truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không có tội. Trong trường hợp người có thẩm quyền phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, khoản 4 của Điều 368 cung cấp thông tin về hình phạt và cấm đảm nhiệm chức vụ.
Theo đó, người có thẩm quyền phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không có tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Điều này là một hình phạt phụ khác ngoài hình phạt tù, nhằm đặt ra một sự trách nhiệm và hạn chế quyền lực của người có thẩm quyền khi họ lạm dụng quyền lực của mình trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định là một biện pháp trừng phạt và ngăn chặn người có thẩm quyền tiếp tục hoạt động trong vị trí chức vụ của mình. Thời gian cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm được quy định để tùy thuộc vào tính chất và nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tạo ra một mức độ linh hoạt trong việc áp dụng biện pháp trừng phạt này.
Ngoài việc cấm đảm nhiệm chức vụ, người phạm tội còn phải đối mặt với hình phạt tù tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự. Hình phạt tù có thể là từ 01 năm đến 15 năm, tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể như số lượng người bị ảnh hưởng, mức độ tổn thương cơ thể, và tác động tiêu cực đối với an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Như vậy, quy định trong Điều 368 Bộ luật Hình sự 2015 và Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 không chỉ tập trung vào việc xác định hình phạt tù mà còn đưa ra biện pháp trừng phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, nhằm đảm bảo rằng người có thẩm quyền không lạm dụng quyền lực của mình khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người không có tội
3. Phụ nữ mang thai có được hoãn chấp hành hình phạt tù khi truy cứu TNHS đói với người không có tội không?
Theo Điều 67 Bộ luật Hình sự 2015, nếu người phạm tội là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, có một quy định rõ về việc hoãn chấp hành hình phạt tù. Quy định này được thiết lập để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong trường hợp đặc biệt khi chấp hành hình phạt tù có thể ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng con nhỏ.
Theo khoản 1 Điều 67 Bộ luật Hình sự, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi có quyền được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Điều này là một biện pháp nhằm đảm bảo môi trường sống và phát triển tốt nhất cho trẻ nhỏ, trong tình huống mẹ của chúng đang phải đối mặt với hình phạt tù.
Quy định này thể hiện sự nhạy bén và linh hoạt của pháp luật trong việc xử lý trường hợp đặc biệt như người phạm tội là phụ nữ đang có trách nhiệm nuôi dưỡng con nhỏ. Trong thời gian hoãn chấp hành hình phạt tù, người phụ nữ có thể tiếp tục chăm sóc và bảo vệ quyền lợi của con cái mình mà không phải đối mặt với tình trạng xa cách gia đình.
Tuy nhiên, quy định cũng có những điều kiện và hạn chế, ví dụ như nếu người phụ nữ được xác định là đã phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì quyền được hoãn chấp hành hình phạt tù có thể bị hạn chế.
Điều 67 Bộ luật Hình sự 2015 còn đề cập đến việc nếu trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, người phụ nữ lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án có quyền buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc duy trì trật tự và xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật
Bài viết liên quan: Hình phạt tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội?
Trên đây là toàn bộ nội dung liên quan đến chủ đề "Phạt tù thế nào khi người có thẩm quyền truy cứu TNHS người mình biết rõ là không có tội?" Nội dung trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng!