Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Dưới góc độ tâm lý học, các nhà tâm lý học tội phạm nghiên cứu quá trình hình thành hành vi phạm tội bao gồm những nội dung sau đây: Sự phát triển xã hội được quy định bởi tổng thể các điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên. Nhưng suy cho cùng, sự phát triển đó là kết quả của những hoạt động có ý thức của con người đang theo đuổi những nhu cầu, lợi ích nhất định. Có thể nói nhu cầu, lợi ích giữ một vai trò vị trí quan trọng trong hoạt động của con người, là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
2. Nhu cầu
2.1 Một số quan điểm về nhu cầu
Nhu cầu là những đòi hỏi của các cá nhân, các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn xã hội muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển.
Trong hoạt động của con người, nhu cầu là khâu trung gian đầu tiên phản ánh và chuyển hóa những yêu cầu khách quan bên ngoài thành động cơ, tư tưởng bên trong thúc đẩy con người ta hành động. Vì vậy, phân tích những nhu cầu được coi là khâu đột phá trong việc nhận thức xu hướng hoạt động của con người, là khâu sẽ cung cấp cho chúng ta những thông tin hết sức quan trọng làm căn cứ cho việc định hướng hoạt động của con người.
Nhu cầu luôn nảy sinh trong hoạt động thực tiễn, trong quan hệ giao tiếp của con người. Mỗi cá nhân có hàng trăm nhu cầu, nhưng trong đó nhu cầu nào mạnh nhất tại một thời điểm nhất định sẽ dẫn tới hành động. Các nhu cầu đã được thỏa mãn sẽ bớt căng thẳng không còn là động lực thúc đẩy cá nhân tìm kiếm mục đích để thỏa mãn chúng. Cứ như vậy, các nhu cầu mới lại tiếp tục nảy sinh.
Nhu cầu là thành phần đầu tiên trong xu hướng nhân cách. Trong tâm lý học có nhiều lý thuyết và quan điểm nghiên cứu về nhu cầu khác nhau. Mỗi lý thuyết lại đưa ra định nghĩa về nhu cầu không hoàn toàn giống định nghĩa của lý thuyết khác. Tuy nhiên điểm chung nhất giữa các lý thuyết này là ở chỗ: Nói đến nhu cầu của con người là muốn nói đến sự cảm nhận của con người về sự xuất hiện ở bản thân mình một sự thiếu thốn về một cái gì đó đòi hỏi phải được bù đắp (đáp ứng). Sự khác biệt về nguyên tắc giữa các lý thuyết này là ở chỗ: Thừa nhận hay không thừa nhận (hoặc thừa nhận đến mức độ nào - triệt để hay nửa vời) bản chất xã hội của nhu cầu con người.
Trong lý thuyết phân tâm học của mình S.Freud coi nhu cầu của con người thuần túy có tình chất sinh học, chủ yếu được điều khiển bởi bản năng tính dục (năng lực Libido).
A.Maslow và cộng sự, một mặt nhấn mạnh nguồn gốc sinh học của mọi nhu cầu con người, song, mặt khác, ông lại cho rằng trong các nhu cầu của con người có một bộ phận (nhu cầu vật chất - nhu cầu sinh tồn cơ bản) thuần túy mang tính chất sinh học, còn một phần khác (nhu cầu tinh thần) lại có cả nguồn gốc xã hội.
Các nhà tâm lý học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: khác hẳn với con vật, mọi nhu cầu của con người (kể cả những nhu cầu sơ đẳng) đều có bản chất xã hội. Nếu sự phát triển nhu cầu của con vật phụ thuộc vào sự mở rộng phạm vi các vật thể có sẵn trong tự nhiên mà chúng tiêu thụ, thì nhu cầu của con người được sản xuất ra bởi sự phát triển của nền sản xuất xã hội.
Sự sống đích thực của con người là tinh thần, là văn hóa. Đó là phương thức sống do con người tạo ra, dẫu phương thức sống nguyên thủy (như ở thực vật, động vật) vẫn được duy trì.
Cũng là ăn, nhưng cách ăn của con người khác cách ăn của động vật. Động vật ăn là để thỏa mãn cái đói vật chất nói chung. Con người tất nhiên ăn cũng để thỏa mãn cái đói ấy, nhưng không chỉ vậy, con người còn cái đói tinh thần. "Cái đói là cái đói, nhưng cái đói được thỏa mãn bằng thịt nấu và ăn với dao, dĩa, lại khác với cái đói dùng bàn tay, móng và răng nuốt chửng thịt sống".
Phương thức thỏa mãn cái đói của con người là phương thức mới do con người tạo ra, khác với phương thức thỏa mãn thô lỗ của con vật.
2.2 Bản chất của nhu cầu dưới góc độ tâm lý học
Khi giải thích về bản chất của nhu cầu con người các nhà tâm lý học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đều xuất phát từ luận điểm: Một nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó. Nói cách khác, một nhu cầu thực sự bao giờ đối tượng của nó cũng đã được xác định rõ ràng. Điều đó có nghĩa là, khi mới xuất hiện, nhu cầu chỉ là một trạng thái thiếu thốn về một cái gì đó còn chưa được chủ thể xác định một cách cụ thể và rõ ràng, Leeonchiev gọi đó là: trạng thái có tính chất nhu cầu, chứ chưa phải một nhu cầu thực sự, lúc này là lúc nhu cầu còn chưa biết đến đối tượng của nó. Như vậy ta thấy, ở đây tồn tại một quá trình biến đổi từ trạng thái mang tính chất nhu cầu, Leeonchiev gọi là trạng thái nhu cầu "trần trụi - nhu cầu tồn tại một cách tiềm tàng, tồn tạo tự nó" của chủ thể không chứa đựng một nội dung đối tượng nào sang một nhu cầu thực sự có đối tượng, được chủ thể xác định rõ ràng dưới hình thức biểu tượng trong đầu chủ thể, thông qua hoạt động trí óc của chủ thể đó. Chính nhờ đối tượng của nhu cầu xuất hiện dưới hình thức biểu tượng trong đầu chủ thể như vậy mà sự vật được xuất hiện với tính chất là một hiện tượng tinh thần, một động cơ trực tiếp thúc đẩy, hướng dẫn và điều khiển hoạt động thực tiễn của con người nhằm hiện thực hóa biểu tượng ban đầu về đối tượng của nhu cầu thành sự vật tồn tại một cách trực quan, cảm tính trong hiện thực khách quan. Nói cách khác, đối tượng của nhu cầu con người cũng chính là bản thân nhu cầu đã được sản xuất ra bởi hoạt động của bản thân con người, do đó, Leeonchiev đã giải thích bản chất của nhu cầu con người bằng sơ đồ: Hoạt động - nhu cầu - hoạt động, chứ không phải bằng sơ đồ: Nhu cầu - hoạt động - nhu cầu.
Từ góc độ giáo dục nhu cầu, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này đều cho rằng, cần có nhiều biện pháp tích cực nhằm nâng nhu cầu con người lên tâm cao đạo đức, để trước khi thỏa mãn nhu cầu của mình con người bao giờ cũng đối chiếu nó với những chuẩn mực xã hội. Một khi những tiêu chuẩn đạo đức xã hội không được thỏa mãn thì con người sẵn sàng từ bỏ nhu cầu của mình.
Ăng ghen có nói một ý rằng: Hoạt động của một người là do nhu cầu của người đó (chứ không phải do tư duy). Mà nhu cầu cũng không phải tự nhiên có từ trong đầu mỗi người (như nhiều người thường lầm tưởng) mà nó bắt nguồn từ đối tượng bên ngoài. Đối tượng chính là hiện thân chính cống của nhu cầu người đó. Đối tượng đồng thời cũng quy định sự biến đổi của chủ thể. Có thể nói, đối tượng hoạt động của bạn là thế nào thì bạn biến đổi theo thế ấy.
Trong gia đình thì sự sống, lợi ích của gia đình được đặt lên hàng đầu. Lợi ích của gia đình phải là lợi ích chung của cả ba thành tố: bố, mẹ, con. Một tình hình ta thường thấy là trong gia đình, lợi ích của trẻ em chưa được tôn trọng. Trong thâm tâm người lớn vẫn thực tâm mong mỏi con em mình sống hạnh phúc. Nhưng nhìn vào cách cư xử của người lớn thì chúng tôi tưởng chừng các bậc cha mẹ thường quên lợi ích của con, mà luôn lấy lợi ích của mình để áp đặt.
Nhu cầu là đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu của con người là động lực thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh hành vi của cá nhân và nhóm xã hội. Nhà tâm lý học Nga A.G.Coovaliov viết: Nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện để sống và phát triển. Nhu cầu quy định hướng lựa chọn của ý nghĩ, rung cảm và ý chí của con người. Nó quy định hoạt động của cá nhân, nhóm xã hội và của cá một giai cấp, dân tộc, thời đại.
Khi bàn về nhu cầu, chúng tôi cho rằng khái niệm nhu cầu cần được hiểu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một nhân cách.
Trong lĩnh vực pháp lý hình sự, nhu cầu thực hiện chức năng làm động lực thúc đẩy hành vi của người phạm tội. Nó quy định xu hướng lựa chọn ý định, động cơ, mục đích phạm tội.
Nhu cầu (của con người, của xã hội nói chung) thường cao hơn khả năng hiện có, đó là cơ sở cho sự phát triển, đi lên.
Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa nhu cầu và khả năng hiện có có thể trở thành điều kiện của hành vi phạm tội. Nhu cầu quá lớn, lòng tham, tính đố kỵ, ý muốn hơn người thường dẫn đến hành vi tham ô, hối lộ, trộm cắp, cưỡng đoạt, cướp giật, v.v...
Nhu cầu của người phạm tội thường có những đặc tính như: Tính nhỏ nhen, nghiêng về vật chất, thực dụng; sự lệch lạc so với chuẩn mực xã hội, chống đối lại xã hội; nhu cầu quá cao ngoài khả năng thỏa mãn cho phép; tính đồi bại, suy thoái.
Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng và không có giới hạn cũng như không bao giờ được hoàn toàn thỏa mãn. Nó muôn màu, muôn vẻ đối với mọi người, mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, mọi thế hệ, mọi dân tộc.
Nhà tâm lý học Nema đã đưa ra hai nhận định có tính chất quy luật về nhu cầu: Một nhu cầu đã được thỏa mãn thì không còn là động lực thúc đẩy hành vi và ứng xử của con người trong xã hội; phần lớn mọi người đều có một hệ thống nhu cầu. Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu kia trở nên bức xúc hơn. Con người không bao giờ được thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu. Nhu cầu của con người là vô tận dẫn đến hoạt động bất tận.
3. Lợi ích
Lợi ích được hiểu là tất cả những gì góp phần vào cuộc sống của con người, thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần, đem lại cho con người sự hài lòng hay những điều kiện để đạt tới những mục đích nhất định.
Lợi ích có vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy con người hành động, nhất là khi những người sử dụng lao động biết kích thích tính tích cực của người lao động một cách hợp lý trên cơ sở kết hợp đúng đắn các loại lợi ích. Lợi ích có rất nhiều loại: lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị và lợi ích văn hóa, xã hội, v.v... trong đó, lợi ích cá nhân của từng người cụ thể dễ được nhận biết hơn cả vì nó đáp ứng ngay các nhu cầu cá nhân của bản thân mỗi người. Có thể nói, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp và mạnh mẽ kích thích tính tích cực hành động của cá nhân đó, còn lợi ích tập thể, cộng đồng, xã hội thường mang tính gián tiếp.
Trong hoạt động, khi nhu cầu xuất hiện, con người hướng vào việc tìm kiếm cái thỏa mãn nhu cầu (tức là lợi ích). Vậy, nhu cầu và lợi ích cá nhân là một trong những yếu tố có vai trò quyết định quan trọng tới hành vi của họ.
Lợi ích của con người thể hiện mối quan hệ của con người với điều kiện hiện tại với cả ước muốn ở kế hoạch hoạt động sống của họ trong tương lai. Đối với người phạm tội thường xử lý không đúng mối quan hệ giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích của người khác, của tập thể, xã hội.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê