1. Quan điểm ban hành Bộ luật Lao động năm 2019

Trước hết, Bộ luật Lao động (sửa đổi) phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, bao gồm người lao động tham gia quan hệ lao động và người làm việc không có quan hệ lao động. Việc bảo vệ người lao động trong luật lao động thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng chiến lược của Đảng, luôn xác định động lực của sự phát triển là “vì con người” và “phát huy nhân tố con người”, nhất là trong xu hướng phát triển kinh tế quốc tế và thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay.

Song song với việc bảo vệ người lao động, Bộ luật cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động. Đó là quyền tự chủ trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả công cho người lao động, quản lý lao động; bảo đảm sự bình đẳng giữa các loại hình và quy mô doanh nghiệp.

Bộ luật Lao động năm 2019 phải bảo đảm kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Cùng với việc coi trọng chính sách kinh tế tạo tiền đề để thực hiện chính sách xã hội, Bộ luật đồng thời phải chú trọng chính sách xã hội, bởi đây là động lực để phát triển kinh tế. Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động cần thiết đưa ra các bảo đảm cho người lao động nhất là các chính sách xã hội, nhưng phải cân nhắc mức độ phù hợp để nâng dần từng bước và có tính đến cả sự phát triển kinh tế của đất nước và khả năng đảm bảo của người sử dụng lao động.

Đặc biệt, Bộ luật Lao động mới phải thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quán triệt và kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, về cải cách chính sách tiền lương, về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và kiến tạo khung pháp luật về lao động nhằm phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động cũ vẫn còn một số điều chưa đáp ứng sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của thị trường lao động, yêu cầu nâng cao năng suất lao động, yêu cầu cải tiến quản trị nhân lực doanh nghiệp trong bối cảnh tác động của cách mạng công nghệ lần thứ 4. Tại các diễn đàn doanh nghiệp, diễn đàn đầu tư kinh doanh, nhiều ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp đề nghị cần sớm được sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp đồng lao động, tiền lương, làm thêm giờ, tuyển dụng và quản lý lao động nhằm tạo khung pháp lý thông thoáng hơn, linh hoạt hơn cho doanh nghiệp về lao động để tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh. Do vậy, Bộ luật Lao động cần được sửa đổi, bổ sung để đảm bảo thực thi hiệu quả trong thực tế áp dụng và tạo môi trường pháp lý linh hoạt hơn cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Trong bối cảnh kinh tế quốc tế có nhiều thay đổi, Bộ luật Lao động phải nội luật hóa được các tiêu chuẩn lao động quốc tế phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản. Trước yêu cầu của việc gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và chuẩn bị ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EƯ (EVFTA), Bộ luật Lao động (sửa đổi) cần phải bổ sung các nội dung cần thiết nhằm bảo đảm sự tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tể trong các công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và thông lệ quốc tế về lao động và quan hệ lao động. Trong đó, đặc biệt chú trọng các nội dung về quyền tự do liên kết, tự do lập hội, quyền thương lượng tập thể của người lao động.

Bộ luật Lao động mới tiếp tục tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về lao động, thị trường lao động; hỗ trợ, hướng dẫn các bên xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ. Cụ thể, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quyền tự do việc làm của người lao động và quyền tự chủ trong tuyển dụng, sử dụng lao động của người sử dụng lao động, song cần thiết phải tăng cường trách nhiệm của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền để thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Thông qua các chính sách, pháp luật, Nhà nước tạo ra các hành lang pháp lý hợp lý và linh hoạt để người lao động và người sử dụng lao động cùng nhau thương lượng, thỏa thuận để đạt được những quyền lợi tốt nhất cho mình so với quy định của pháp luật. Đồng thời Nhà nước hướng dẫn các bên xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

2. Định hướng ban hành Bộ luật Lao động năm 2019

- Bộ luật Lao động phải sửa đổi một cách toàn diện trong tất cả các chương theo hướng: Qua thực tiễn thi hành những vấn đề nào chưa phù hợp với thực tế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển đa dạng của quan hệ lao động, chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như chưa tương thích và đáp ứng được yêu cầu đặt ra của xu hướng phát triển kinh tế quốc tế hiện nay,... đều phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.

>> Xem thêm:  Bồi thường chi phí đào tạo khi chấm dứt hợp đồng lao động được xác định như thế nào ?

- Khi tiến hành sửa đổi Bộ luật Lao động, phải tiếp tục kế thừa những quy định hợp lý của Bộ luật Lao động cũ năm 2012. Bộ luật Lao động mới được xây dựng trên tinh thần sửa đổi cơ bản và toàn diện để thay thế Bộ luật Lao động cũ năm 2012. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là làm mới lại từ đầu mà phải tiếp thu và kế thừa pháp luật trước đó, bao gồm kế thừa những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo và những quy định hợp lý của Bộ luật Lao động cũ năm 2012. Cụ thể là: những quy định đã qua thực tiễn kiểm nghiệm thấy phù hợp thì tiếp tục được giữ lại, chỉ sửa đổi những nội dung không phù hợp, chưa rõ và bổ sung những nội dung còn thiếu. Ngoài ra, cần thiết phải luật hóa những quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành vào Bộ luật, nếu thấy nội dung đó phù hợp, nhằm tạo thuận lợi cho việc thực thi và giảm bớt văn bản hướng dẫn.

- Các nội dung đã được tách ra thành các luật riêng thì sẽ không quy định cụ thể, chi tiết trong Bộ luật Lao động mới, mà chỉ quy định nguyên tắc hoặc quy định chung theo hướng dẫn chiếu văn bản thi hành để tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn và đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Các nội dung về đào tạo nghề, nâng cao, bồi dưỡng kỹ năng nghề; an toàn, vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội; giải quyết đình công tại tòa án nhân dân trong Bộ luật Lao động mới cũng chỉ quy định ở các nội dung liên quan đến quan hệ lao động hoặc ở mức nguyên tắc hoặc nếu trùng lặp và không cần thiết thì có thể bãi bỏ.

Cùng với đó, Bộ luật Lao động mới phải sửa đổi các quy định của Bộ luật cho thống nhất với nội dung của các đạo luật đã ban hành trong những năm gần đây có liên quan, như Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017; Luật doanh nghiệp năm 2020; Luật đầu tư năm 2020; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017.

- Hạn chế tối đa sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ lao động và hoạt động của các doanh nghiệp; tôn trọng và phát huy quyền đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và thỏa thuận của các bên quan hệ lao động; bảo đảm sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, không có sự phân biệt về quy mô, hình thức hoạt động trong tuyển dụng và sử dụng lao động, cũng như quản lý lao động.

- Bộ luật Lao động phải bảo đảm tính khả thi của các quy định trong thực tiên thực hiện. Giải thích cụ thê các từ ngữ. Những nội dung mang tính nguyên tăc hoặc chưa rõ, có thể dẫn đến việc thực hiện không thống nhất thì phải giao cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thi hành.

3. Mục đích và quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng Bộ luật lao động năm 2019.

3.1 Mục đích

Việc sửa đổi toàn diện Bộ luật lao động cũ năm 2012 để tiến hành hoàn thiện Bộ luật lao động năm 2019 nhằm"

- Góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cho thị trường lao động phát triển. Đưa ra các phương hướng giải quyết các vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thi hành sau gần 7 năm áp dụng trên thực tế các quy định của Bộ luật lao động cũ năm 2012 và tạo ra khung pháp lý thông thoáng, linh hoạt hơn về việc tuyển dụng, sử sụng lao động góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh tế.

- Bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động; đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và định hướng mục tiêu của những năm tới. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

>> Xem thêm:  Luật lao động là gì ? Đối tượng, phương pháp điều chỉnh của luật lao động ?

- Đáp ứng các yêu cầu về thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động và bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.

- Đáp ứng các yêu cầu hội nhập của nền kinh tế quốc tế.

3.2 Quan điểm chỉ đạo

Bộ luật lao động năm 2019 được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau:

- Thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về hội nhập kinh tế quốc tế, về cải cách chính sách tiền lương, về cảu cách chính sách bảo hiểm xã hội và kiến tạo khung pháp luật về lao động nhằm phát triền đồng bộ, liên thông các thị trường lao động, nhằm phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Cụ thể hóa Hiến pháp 2013, bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân trong lĩnh vực lao động. Bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động; đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam hiện nay.

- Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng.

- Nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc thế phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.

- Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về lao động, thị trường lao động, hỗ trợ, hướng dẫn các bên xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực lao động Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cán bộ, công chức, viên chức sinh con thứ 3 trở lên?

>> Xem thêm:  Xử lý kỷ luật viên chức sinh con thứ ba?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Mục đích cho việc thay đổi toàn diện Bộ luật lao động năm 2012 thành Bộ luật lao động năm 2019?

Trả lời:

Việc sửa đổi toàn diện Bộ luật lao động cũ năm 2012 để tiến hành hoàn thiện Bộ luật lao động năm 2019 nhằm"

- Góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cho thị trường lao động phát triển. Đưa ra các phương hướng giải quyết các vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thi hành sau gần 7 năm áp dụng trên thực tế các quy định của Bộ luật lao động cũ năm 2012 và tạo ra khung pháp lý thông thoáng, linh hoạt hơn về việc tuyển dụng, sử sụng lao động góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh tế.

- Bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động; đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và định hướng mục tiêu của những năm tới. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

- Đáp ứng các yêu cầu về thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động và bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.

- Đáp ứng các yêu cầu hội nhập của nền kinh tế quốc tế.

Câu hỏi: Quan điểm chỉ đạo xây dựng Bộ luật lao động năm 2019?

Trả lời:

Bộ luật lao động năm 2019 được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau:

- Thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về hội nhập kinh tế quốc tế, về cải cách chính sách tiền lương, về cảu cách chính sách bảo hiểm xã hội và kiến tạo khung pháp luật về lao động nhằm phát triền đồng bộ, liên thông các thị trường lao động, nhằm phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Cụ thể hóa Hiến pháp 2013, bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân trong lĩnh vực lao động. Bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động; đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam hiện nay.

- Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng.

- Nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc thế phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.

- Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về lao động, thị trường lao động, hỗ trợ, hướng dẫn các bên xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Câu hỏi: Việc xây dựng Bộ luật lao động năm 2019 dựa trên những lý do gì?

Trả lời:

Xuất phát từ các lý do sau đây:

- Thứ nhất, trong thực tiễn thi hành Bộ luật Lao động năm 2012 đã xuất hiện nhiều vướng mắc, bất cập cần bổ sung, sửa đổi.
Qua tổng kết 6 năm thi hành, nhiều doanh nghiệp, tổ chức đại diện người sử dụng lao động và người lao động, tổ chức công đoàn đã phản ánh nhiều vướng mắc, bất cập khi áp dụng các điều luật của Bộ luật Lao động năm 2012 về một số nội dung như hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, kỷ luật lao động, lao động nữ, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đối thoại tại nơi làm việc, công đoàn, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và đình công…

- Thứ hai, yêu cầu từ việc thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

- Thứ ba, yêu cầu từ hội nhập kinh tế quốc tế.