1. Pháp điển hóa là gì?
Pháp điển hóa là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong đó không những tập hợp những văn bản đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏ những quy phạm lỗi thời, mâu thuẫn mà còn chế định thêm những quy phạm mới nhằm thay thế cho những quy định bị loại bỏ và khắc phục những chỗ trống được thực hiện trong quá trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm hiện hành, nâng cao hiệu lực pháp lý của chúng. Pháp điển hóa là hình thức cao nhất, hoàn chỉnh của công tác hệ thống hóa pháp luật. Có hai trường phái pháp điển hóa là pháp điển hóa nội dung (substantive codification) và pháp điển hóa hình thức (formal codification).
Pháp điển hóa nội dung: khi pháp điển hóa người ta không những tập hợp những quy phạm hiện hành mà còn ban hành các quy phạm mới ở ngay trong chính bộ luật. Khi nói về pháp điển hóa, ngoài các đặc trưng nêu trên, cần lưu ý rằng pháp điển hóa khác với tập hợp hóa rất nhiều về thủ tục tiến hành. Công tác pháp điển hóa chỉ có thể do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội phê duyệt. Kết quả quá trình pháp điển hóa là việc ban hành các bộ luật. Ví dụ, Bộ luật dân sự được tập hợp không chỉ những quy phạm pháp luật hiện hành về dân sự có trước tháng 10-1995, mà còn đưa vào những quy phạm mới như trong Phần thứ sáu, chương II nói về Quyền sở hữu công nghiệp, chương III về Chuyển giao công nghệ. Đây là cách pháp điển hóa truyền thống phổ biến ở pháp và châu âu trong thế kỷ 19 và trước đó mà điển hình là Bộ luật dân sự Napoleon 1804. Theo một số học giả Việt Nam và EU (xem Bộ Pháp điển hóa về tổ chức và Hoạt động của Quốc hội, nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2009, trang 484):
Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng pháp điển hóa nội dung theo cách truyền thống ngày càng bộc lộ những hạn chế của mình. Đó là "quá trình pháp điển hóa là một quá trình lâu dài và không bao giờ kết thúc và không mang tính tổng thể với hệ thống pháp luật. Trong khi đó, nhu cầu rất lớn của các chủ thể trong xã hội là có thể dễ dàng tiếp cận với các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành theo các lĩnh vực khác nhau. Điều này chỉ có thể giải quyết được thông qua việc sử dụng cách thức pháp điển hóa về hình thức với những ưu thế về tính tổng thể và tính thực dụng của nó.
Pháp điển hình thức (còn được gọi là pháp điển không làm thay đổi nội dung văn bản) là cách thức tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật tại nhiều văn bản khác nhau thành các bộ luật theo từng chủ đề, với bố cục logic, phù hợp, có thể kèm theo những sửa đổi, điều chỉnh cần thiết nhằm làm cho các quy định này phù hợp với nhau. Về nguyên tắc, quá trình sửa đổi, điều chỉnh trong quá trình pháp điển chỉ nhằm mục đích tạo nên sự hài hòa giữa các quy định, đảm bảo trật tự của bộ pháp điển mà không nhắm tới mục đích tạo ra những chính sách pháp luật mới và các quy định pháp luật đang có hiệu lực được tôn trọng một cách tối đa.
Nhu cầu pháp điển hóa hệ thống pháp luật Việt Nam xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau. Các phần sau đây sẽ đưa ra từng mục đích cụ thể.
2. Tạo ra sự tiện lợi cho việc tra cứu, tìm kiếm các văn bản quy phạm pháp luật
Hiện tại, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta bao gồm 15 loại văn bản, trong đó, một số cơ quan được ban hành từ hai đến ba loại văn bản; một số loại văn bản lại có thể do nhiều cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành (chẳng hạn như nghị quyết, quyết định); chưa kể một lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương (Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp). Hệ thống pháp luật nhiều tầng nấc, nằm tản mạn ở nhiều nơi. Không những thể, nhiều hình thức văn bản đồng thời vừa được dùng để ban hành văn bản quy phạm pháp luật, vừa được dùng để ban hành văn bản áp dụng pháp luật. Trong một số văn bản quy phạm pháp luật còn chứa cả những phần không phải quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản còn hiệu lực và hết hiệu lực đan xen lẫn nhau. Việc xác định chính xác văn bản nào còn hiệu lực hay hết hiệu lực là vấn đề không đơn giản đối với người dân, doanh nghiệp, thậm chí, cả đối với người trực tiếp làm công tác thi hành pháp luật. Trong nội tại hệ thống văn bản còn tồn tại nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, còn có những quy phạm lôi thời, lạc hậu chưa bị loại bỏ.
Trong khi đó, cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhu cầu của người dân trong việc tiếp cận và tìm hiểu các quy định của pháp luật ngày càng lớn. Thực tế cho thâỳ, mọi quan hệ kinh tế, dân sự đều đòi hỏi phải được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật nhất định. Điều đó đặt ra yêu cầu các văn bản quy phạm pháp luật phải được rà soát, sắp xếp một cách hệ thống theo những chủ đề nhất định, tạo thuận tiện cho việc tra cứu, tìm kiếm, giảm thiểu thời gian và chi phí. Ngược lại, nếu trong khi tra cứu văn bản, người tra cứu chưa có đủ cơ sở để biết số liệu văn bản tìm thấy đã đủ chưa, còn hiệu lực hay đã hết hiệu lực thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả áp dụng văn bản quy phạm pháp luật. Khó khăn trong việc tiếp cận, tìm hiểu pháp luật cũng như việc áp dụng pháp luật không chính xác sẽ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người dân, làm tăng chi phí cho hoạt động kinh tế và gây tâm lý e ngại cho nhà đầu tư.
3. Thực hiện các cam kết quốc tế về công khai, minh bạch hóa hệ thống pháp luật
Xây dựng một hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, dễ tiếp cận là một phần quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là yêu cầu cơ bản để thực hiện chủ trương "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ký kết và tham gia nhiều điều ước, thỏa thuận quốc tế, trong đó có những cam kết liên quan đến việc minh bạch hệ thống hóa pháp luật.
Chẳng hạn, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) và các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam đều có những quy định về việc Việt Nam sẽ thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa hệ thống pháp luật của mình. Riêng Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có cả một chương - Chương IV quy định về các yêu cầu công khai, minh bạch hóa hệ thống pháp luật của cả hai bên. Việc pháp điển hóa pháp luật sẽ góp phần bảo đảm tính minh bạch, dễ cập nhật các quy phạm pháp luật, phát hiện những chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với Hiến pháp, với các thỏa thuận, cam kết quốc tế trong các quy phạm hiện hành.
4. Nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật
Hiện nay, có ý kiến cho rằng, pháp luật của Việt Nam đã tương đối đầy đủ, việc còn kém hiệu quả là do khâu tổ chức thực hiện. Tuy ý kiến này ít nhiều mang tính phiến diện, nhưng có một thực tế là trong nhiều trường hợp chính bản thân người thực thi pháp luật, các cơ quan nhà nước không nắm vững pháp luật. Một trong những yếu tố khách quan dẫn đến tình trạng này là do có quá nhiều văn bản pháp luật mà một cá nhân, đơn vị không thể cập nhật hết được.
Để khắc phục tình trạng này, một trong những biện pháp quan trọng được nhiều nước sử dụng là tiến hành hệ thống hóa, pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp điển hóa giúp tìm kiếm những quy định pháp luật phù hợp để áp dụng cho từng trường hợp cụ thể được thực hiện một cách dễ dàng hơn. Ngoài ra, thống qua các bộ pháp điển người ta có thể tìm hiểu, nghiên cứu văn bản pháp luật một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống.
Cũng như các đối tượng khác, khi các văn bản quy phạm pháp luật được hệ thống hóa, pháp điển hóa tốt thì các nhà quản lý, các cơ quan thực thi pháp luật cũng sẽ có điều kiện tra cứu, tìm hiểu pháp luật một cách đầy đủ và có tính hệ thống hơn. Nhận thức được các văn bản pháp luật một cách tổng thể, có hệ thống sẽ giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra quyết định tối ưu nhất. Chỉ trên cơ sở hiểu biết pháp luật một cách đầy đủ, có hệ thống, nhận thức được bản chất, tinh thần của pháp luật thì nhà quản lý mới đưa ra được các quyết định phù hợp với thực tế khách quan. Do đó, công tác hệ thống hóa, pháp điển hóa giúp họ đảm nhiệm công việc của mình một cách tốt hơn.
5. Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho người dân
Trong bất kỳ xã hội nào, ở bất kỳ trình độ phát triển nào thì hành vi của người dân luôn chịu sự chi phối của các quy phạm pháp luật và các phong tục, tập quán, quy tắc đạo đức xã hội. Các phong tục, tập quán và quy tắc đạo đức xã hội tự nhiên hình thành và tự nhiên mất đi dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, một khi chúng tồn tại thì chúng đương nhiên có hiệu lực. Nhưng với pháp luật thì ngược lại, người dân trước hết phải hiểu biết về pháp luật một cách chính xác, đầy đủ thì mới tuân theo và tự giác tuân theo.
Để giúp người dân có thể hiểu biết về pháp luật một cách chính xác và đầy đủ, việc hệ thống hóa, pháp điển hóa có một vai trò rất quan trọng. Có thể nói trong nhiều năm qua công tác hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, kết quả đó hầu như mới chỉ giới hạn trong phạm vi các cơ quan nhà nước. Mặc dù vậy để công khai hóa và phổ biến pháp luật đã được chú trọng thực hiện, nhưng trên thực tế, việc tiếp cận pháp luật của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, việc hệ thống hóa, pháp điển hóa làm cho hệ thống pháp luật dễ hiểu, dễ tiếp cận, thuận lợi cho việc tra cứu sử dụng là hết sức cần thiết. Tuy đây là hoạt động mang tính kỹ thuật, nhưng lại mang đến những giá trị thiết thực. Hệ thống hóa, pháp điển hóa tạo điều kiện thuận lợi để người dân tìm hiểu pháp luật, làm cho pháp luật gần gũi với đời sống hằng ngày của họ, tạo cho họ thói quen và tập quán ứng xử theo pháp luật.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)
Trân trọng!