1.Khái niệm tài sản là gì ?

Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Có các loại tài sản nào :

Vật

– Vật là  bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình. Với ý nghĩa phạm trù pháp lý, vật chỉ có ý  nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người.

Không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật. Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật. Ví dụ, Ô-xi còn ở dạng không khí trong tự nhiên thì chưa thể được coi là vật, vì chưa thể đưa vào giao dịch dân sự.

Chỉ khi được nén vào bình, tức là con người có thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và được coi là vật. Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những điều kiện sau: là bộ phận của thế giới vật chất; con người chiếm hữu được; mang lại lợi ích cho chủ thể; có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai. 

Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau. Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành: Vật chính là vật độc lập có thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hòa, máy ảnh…); vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính điều (khiển ti vi, điều hòa, vỏ máy ảnh,…).

Tiền: Theo Mác  thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

Giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định.

2. Các phương thức bảo đảm trong bảo lãnh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 335 BLDS 2015 thì :
Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Tại các Điều 366 BLDS cũ, Điều 361 BLDS cũ đều có quy định về bảo lãnh với nội dung cơ bản giống như quy định tại khoản 1 Điều 335 nêu trên.
Các trường hợp bảo đảm mà bên có nghĩa vụ tự bảo đảm cho nghĩa vụ của mình thì dù cách thể hiện trong mỗi điều luật có thể khác nhau, nhưng chúng có điểm chung là các điều luật đó đều thể hiện nổi bật nội dung bên bảo đảm phải dùng các tài sản cụ thể thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ: Cầm cố là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình…; Thế chấp là việc một bên dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình…; Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền…; Ký cược là giao cho bên cho thuê một khoản tiền…; Ký quỹ là bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền… 
Đối với biện pháp bảo đảm bằng bảo lãnh thì nội dung thể hiện trong các điều luật tại các BLDS trước đây và hiện nay đều không quy định rõ bảo lãnh bằng tài sản cụ thể. Bảo lãnh chỉ là “cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ…”.

3. Nghĩa vụ của bảo lãnh là gì ?

Bảo lãnh được xác định là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được pháp luật dân sự ghi nhận nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong giao dịch dân sự. Do đó, khi áp dụng biện pháp bảo lãnh thì các bên trong giao dịch cần có những hiểu biết nhất định về biện pháp bảo đảm nói chung và biện pháp bảo lãnh nói riêng trước khi ký các giao dịch, thỏa thuận. Bởi lẽ nên áp dụng các biện pháp bảo đảm này vừa đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên song còn đảm bảo giảm thiểu được các tranh chấp phát sinh không đáng có.

Từ quy định về bảo lãnh nêu ở trên thì có thể xác định được nghĩa vụ bảo lãnh bao theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Do đó, các bên trong bảo lãnh có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình trong quá trình tham gia vào bảo lãnh. Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của người tham gia bảo lãnh trong trường hợp đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của họ trước bên nhận bảo lãnh. Ngoài ra, trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh thì các bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Không những thế mà theo như quy định tại Điều 335 bộ luật dân sự năm 2015 thì khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ. Do đó, theo như quy định tại Điều này thì thời điểm mà bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ được xác định, cụ thể:

Bên bảo lãnh phải thực nghĩa vụ được bảo đảm bằng việc bảo lãnh đến thời hạn thực hiện. Không chỉ có vậy mà pháp luật còn có quy định về việc xác định việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh bắt đầu từ thời điểm này trong trường hợp các bên trong quan hệ bảo lãnh không có thoả thuận khác về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Song song với đó là trường hợp khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Thì tại thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp này được xác định từ thời điểm có đủ căn cứ để xác định về việc bên được bảo lãnh không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ.

4. Quy định chung về bảo lãnh bằng tài sản

Cũng giống như Bộ luật Dân sự cũ, vấn đề bất cập lớn nhất là Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không thể hiện quan điểm rõ ràng về đặc điểm của biện pháp bảo lãnh. Nếu Bộ luật Dân sự cũ đã không minh định được đặc điểm cốt lõi là bảo lãnh chỉ có một cách thức là không bằng tài sản thì Bộ luật Dân sự năm 2015 càng mập mờ với các quy định, bên cạnh việc bảo lãnh không bằng tài sản, lại còn có cả bảo lãnh bằng tài sản, đồng thời với việc cầm cố, thế chấp bằng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ cho người thứ ba. Điều không rõ ràng nữa là, khi quy định “các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”. Hay, cụ thể hơn là quy định, bên bảo lãnh có thể thỏa thuận với bên nhận bảo lãnh về việc áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Điều này là khác với Bộ luật Dân sự cũ. Tuy nhiên, khi quy định về việc xử lý tài sản bảo đảm thì lại chỉ đề cập đến xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, mà không hề có tài sản bảo lãnh. Điều này thì lại vẫn giống như quy định của Bộ luật Dân sự cũ.

Quy định về bảo lãnh này đã quay trỏ lại giống với quy định về biện pháp bảo lãnh trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 và Bộ luật Dân sự năm 1995 (bảo lãnh cả đối vật và đốì nhân) và khác với bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự cũ (chỉ là bảo lãnh đối nhân, không kèm theo tài sản đối vật).

Tuy nhiên, quy định bảo lãnh đối vật trong các luật và pháp lệnh trước đây, luôn đồng bộ với quy định không có việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác. Điều rắc rối xảy ra đối với Bộ luật Dân sự năm 2015 là đặt ra hai loại quy định trùng lặp nhau, gây ra sự rắc rôì, phức tạp, vừa công nhận việc bảo lãnh đối vật, lại vừa thừa nhận cả việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba.

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xóa bỏ khoảng cách phân biệt về cầm cố, thế chấp và bảo lãnh rất hợp lý, rõ ràng, đơn giản của Bộ luật Dân sự cũ. Điều này dẫn đến sự chồng chéo giữa các biện pháp cầm cố, thế chấp và bảo lãnh để bảo đảm nghĩa vụ cho người thứ ba, đó là vừa bảo lãnh bằng tài sản  lại vừa thế chấp tài sản (như Bộ luật Dân sự cũ). Tức là một biện pháp bảo lãnh nhưng lại sử dụng đồng thời nhiều cách thức bảo đảm, đó là việc bảo lãnh không bằng tài sản và việc bảo lãnh lồng ghép đồng thời hai biện pháp là bảo lãnh cho nghĩa vụ của người thứ ba vòng qua biện pháp cầm cố hoặc thế chấp.

Việc quy định như vậy là chưa hợp lý, mâu thuẫn với Luật Đất đai năm 2013 . Các chủ thể giao dịch cũng như các cơ quan chức năng không thể phân biệt được tại sao và khỉ nào thì thực hiện thẳng biện pháp thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ cho người thứ ba (duy nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự cũ) và khi nào thì phải thực hiện biện pháp thế chấp thông qua biện pháp bảo lãnh

5.Điều bất hợp lý vè biện pháp bảo lãnh 

Điểm bất hợp lý này có thể được lý giải thông qua nhận định về biện pháp bảo lãnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội như sau:

“Nhiều ý kiến cho rằng, Luật Đất đai cũ ghi nhận về việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, nhưng đến Bộ luật Dân sự cũ không tiếp tục quy định về biện pháp bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất vì cho rằng bảo lãnh là quan hệ đối nhân chứ không phải quan hệ đôi vật. Luật Đất đai năm 2013 đã sửa đổi các quy định về quyền
của người sử dụng đất cho phù hợp với Bộ luật Dân sự cũ, theo đó cũng không quy định về bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong thực tiễn giao dịch dân sự hiện nay, việc sử dụng tài sản là quyền sử dụng đất để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba vẫn đang diễn ra khá phổ biến. Do đó, đề nghị làm rõ trong dự thảo Bộ luật Dân sự về biện pháp bảo lãnh có được dùng tài sản bảo đảm hay không để tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Để khắc phục bất cập nêu trên, ủy ban Thường vụ Quốc hội xin được chỉnh lý quy định về biện pháp bảo lãnh tại Điều 335 và Điều 336 theo hưống: tiếp tục quy định bảo lãnh là quan hệ đối nhân, đồng thời mở rộng quy định việc các bên trong quan hệ bảo lãnh có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”.

Nhận định “Trong thực tiễn giao dịch dân sự hiện nay, việc sử dụng tài sản là quyền sử dụng đất để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba vẫn đang diễn ra khá phổ biến” là đúng, nhưng nó không chỉ là vấn đề phát sinh trong thực tiễn, mà hoàn toàn theo đúng với quy định của Bộ luật Dân sự cũ. Tuy nhiên, đó là quan hệ thế chấp đốì vật, chứ hoàn toàn không liên quan gì đến quan hệ đối nhân như kiến nghị lập pháp tiếp theo là quy định bảo lãnh ngoài là một quan hệ đối nhân, còn mỏ rộng sang cả đối vật. Vì vậy, đây không phải là một quy định “để tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự’, mà là sai về nguyên tắc, gây khó khăn cho cả việc lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Tóm lại, Bộ luật Dân sự cũ quy định bảo lãnh cả bằng và không bằng tài sản, đồng thời không có việc cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho ngưòi thứ ba. Bộ luật Dân sự cũ chỉ quy định việc bảo lãnh không bằng tài sản, đồng thời cho phép cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho người thứ ba. Còn Bộ luật Dân sự năm 2015 vừa quy định việc bảo lãnh bằng và không bằng tài sản lại vừa quy định việc cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho người thứ ba. Như vậy, đối vổi việc bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho người thứ ba bằng tài sản, nếu như hai Bộ luật Dân sự cũ quy định chỉ có một cách thức thì Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cả hai cách thức. Đây là sự lẫn lộn về tư duy lập pháp, dẫn đến sự chồng chéo về pháp luật, khó khăn về cách hiểu, rắc rối về hợp đồng, phức tạp về áp dụng và rủi ro về pháp lý.

Do đó, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp nhận tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của người thứ ba, thì bên nhận bảo đảm được quyền lựa chọn một trong hai cách thức khác nhau. Cách thứ nhất là vẫn ký hợp đồng cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho người thứ ba. Cách thứ hai là ký hợp đồng bảo lãnh, đồng thời là hợp đồng thế chấp hoặc ký hợp đồng bảo lãnh và ký thêm hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh. Cách thứ nhất thực hiện thẳng biện pháp thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác đơn giản, rõ ràng hơn cách thứ hai thực hiện biện pháp thế chấp thông qua biện pháp bảo lãnh. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào cách hiểu và quan điểm của tổ chức
hành nghề công chứng, cơ quan đăng ký thế chấp và đặc biệt là Toà án giải quyết tranh chấp.

Năm 2021, pháp luật quy định “trường hợp chủ sở hữu tài sản và bên nhận bảo đảm thỏa thuận dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác thì áp dụng quy định về cầm cố tài sản, thế chấp tài sản”.

Trường hợp vừa sử dụng tài sản bảo đảm để trả nợ cho ngưòi thứ ba vừa thực hiện việc bảo lãnh không bằng tài sản để trả nợ cho người thứ ba, thì nên tách riêng hai hợp đồng theo hai quan hệ khác nhau. Đó là ký hợp đồng thế chấp bằng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho ngưòi thứ ba (trong phạm vi giá trị của tài sản); và ký hợp đồng bảo lãnh không bằng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của người thứ ba (chịu trách nhiệm về toàn bộ nghĩa vụ trả nợ).

Về cơ bản, pháp luật không hạn chế đối tượng được bảo lãnh, gồm pháp nhân và cá nhân, kể cả doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh, hộ gia đình, hộ nông dân, ngư dân, trang trại.

Đối với đôi tượng bảo lãnh thì hạn chế hơn, nhưng cũng gồm cá nhân, pháp nhân, trong đó có công ty. Trên thực tế, ít khi có việc chấp nhận bảo lãnh của cá nhân nếu như không có tài sản kèm theo, vì rất khó khăn khi yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh bằng tài sản. Bảo lãnh của pháp nhân thì
có một số quy định riêng cho bảo lãnh ngân hàng, bảo lãnh chính phủ và một số doanh nghiệp, pháp nhân khác.

Ngoài ra, bên cạnh quy định bảo lãnh gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, còn có quy định bảo lãnh nhưng không thấy gắn với nghĩa vụ về tài sản của người bảo lãnh cho người nưốc ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam1. Tức là có thể hiểu rằng đây không phải là biện pháp bảo lãnh theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.