1.Khái niệm nghĩa vụ là gì ?
Nghĩa vụ là việc đòi hỏi mỗi công dân phải thực hiện hành vi cần thiết do Nhà nước yêu cầu, nếu không tuân thủ thực hiện đúng thì Nhà nước buộc phải áp dụng biện pháp như giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế.
Nghĩa vụ là việc phải làm theo bổn phận của mình, Bộ luật dân sự 2015 có quy định nghĩa vụ là việc mà một hoặc nhiều chủ thể phải tiến hành như: chuyển giao quyền, trả tiền, giấy tờ có giá trị thực hiện hoặc không thực hiện công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác.
Nghĩa vụ đạo đức là gì?
Nghĩa vụ đạo đức là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển ý thức đạo đức của mỗi con người, đây là một phạm trù cơ bản của đạo đức học và đóng vai trò quan trọng trong đời sống đạo đức xã hội.
Nghĩa vụ đạo đức là thước đi sự tiến bộ, giá trị đời sống đạo đức của một xã hội nhất định, việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức tốt hay xấu phụ thuộc vào tình trạng tiến bộ hay thoái hóa đời sống đạo đức trong một xã hội.
2. Khái niệm quyền là gì ?
Quyền là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.
Dấu hiệu đặc trưng thứ nhất của quyền là phải có sự ghi nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; thứ hai là phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. Theo đó, quyền của cá nhân được phát sinh, tăng hay giảm tùy theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội. Đối với cá nhân, các quyền cơ bản phát sinh khi cá nhân sinh ra và có những quyền cụ thể khác phát sinh và ghi nhận khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn nhất định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định. Quyền phải gắn với phạm vi quyền, nghĩa vụ và năng lực của cá nhân và phải chịu tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật hay vùng lãnh thổ nhất định. Quyền của cá nhân chỉ bị tước bỏ bởi pháp luật, chấm dứt khi người đó chết.
3. Quy định chung trong điều khoản về quyền và nghĩa vụ
Điều khoản về quyền và nghĩa vụ đốì với hợp đồng bảo đảm có sự tham gia của hai bên thì có thể thiết kế theo một trong bốn cách chính như sau:
Bao gồm bốn điều, trong đó mỗi điều liệt kê về từng quyền và từng nghĩa vụ của mỗi bên;
Bao gồm hai điều, trong đó có một điều về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên hoặc một điều về quyền và một điều về nghĩa vụ của cả hai bên;
Duy chỉ có một điều gồm cả quyền và nghĩa vụ của cả hai bên;
Không nêu riêng điều nào về quyền và nghĩa vụ của hai bên, mà được lồng ghép vào các điều khoản khác.
Liệt kê quyền và nghĩa vụ của các bên theo ba cách đầu thì khá đơn giản, rõ ràng. Còn khó hơn là chuyển hoá quyền, nghĩa vụ của các bên vào các điều khoản liên quan của hợp đồng. Chẳng hạn, đối với hợp đồng mua bán thì quyền, nghĩa vụ của các bên chính là quyền, nghĩa vụ trong giao nhận tài sản; quyền, nghĩa vụ trong thanh toán; quyền, nghĩa vụ trong bảo hành hàng hoá; quyền, nghĩa vụ do vi phạm hợp đồng; ... Còn đối với hợp đồng bảo đảm là quyền giữ giấy tờ tài sản bảo đảm, quyền sử dụng tài sản bảo đảm, quyền xử lý tài sản bảo đảm, nghĩa vụ quản lý tài sản bảo đảm, nghĩa vụ mua bảo hiểm, nghĩa vụ bàn giao tài sản, ...
Các bên cũng có thể đưa thêm nội dung cam đoan sự thật và chịu trách nhiệm vào hợp đồng bảo đảm. Tuy nhiên, cần lưu ý tránh những nội dung bất hợp lý như bên thế chấp và nhận thế chấp cam đoan “việc giao kết Hợp đồng này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dốĩ, không bị
ép buộc” tại mẫu “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT1 hay mẫu “Hợp đồng bảo đảm tiền vay” cho khoản vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, ban hành kèm theo Thông tư số 139/2015/TT-BTC và mẫu “Hợp đồng thế chấp tài sản cho khoản vay được Chính phủ bảo lãnh”, ban hành kèm theo Thông tư số 10/2016/TT-BTC. Nếu một bên tham gia hợp đồng bảo đảm bị lừa dốĩ hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bô' giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Tuy nhiên, việc một bên “bị lừa dối” là do bị bên kia dùng thủ đoạn lừa đảo, gian dôì tại thời điểm giao kết hợp đồng, nên rất khó, thậm chí là không thể biết được, vì vậy không thể cam kết rằng mình “không bị lừa dối”.
4.Xử lý tài sản thế chấp được đầu tư
Trường hợp đầu tư vào tài sản thế chấp quy định tại Điều 20 Nghị định làm phát sinh tài sản mới hoặc tài sản tăng thêm do đầu tư (dưới đây gọi là tài sản mới phát sinh) không thuộc tài sản thế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp thì giải quyết:
- Tài sản mới phát sinh có thể tách rời khỏi tài sản thế chấp mà không làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp so với giá trị của tài sản đó trước khi được đầu tư thì việc xử lý tài sản không bao gồm tài sản mới phát sinh, phần tài sản này được bên nhận thế chấp giao lại cho bên đầu tư;
- Tài sản mới phát sinh không thể tách rời như quy định tại điểm a khoản này thì tài sản được xử lý bao gồm cả phần tài sản mới phát sinh, bên đầu tư được bên nhận thế chấp thanh toán giá trị phần tài sản này.
Trường hợp tài sản mới phát sinh vừa tiếp tục được dùng để thế chấp vừa được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì áp dụng quy định về một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.
Trường hợp tài sản mới phát sinh không tiếp tục dùng để thế chấp nhưng được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì giải quyết:
- Tài sản mới phát sinh có thể tách rời khỏi tài sản thế chấp mà không làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp so với giá trị của tài sản đó trước khi được đầu tư thì bên nhận bảo đảm mới có quyền tách phần tài sản mà mình nhận bảo đảm;
- Tài sản mới phát sinh không thể tách rời như quy định tại điểm a khoản này thì tài sản được xử lý theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 56. Giá trị tài sản mới phát sinh được bên nhận thế chấp thanh toán cho bên nhận bảo đảm khác.
Bên nhận thế chấp được thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 4 Điều 20 Nghị định từ số tiền thu được trong xử lý tài sản thế chấp.
Việc xử lý tài sản bảo đảm được đầu tư thuộc biện pháp bảo đảm khác mà các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật liên quan không quy định khác thì áp dụng các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 56.
5. Mua, nhận chuyển nhượng, nhận chuyển giao khác về quyền sở hữu tài sản bảo đảm
Người mua, người nhận chuyển nhượng, người nhận chuyển giao khác về quyền sở hữu tài sản bảo đảm (dưới đây gọi là người nhận chuyển giao) có quyền sở hữu tài sản, được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
Người nhận chuyển giao tài sản bảo đảm là cổ phần, phần vốn góp trong pháp nhân thương mại, pháp nhân phi thương mại là doanh nghiệp xã hội kế thừa quyền, nghĩa vụ của bên bảo đảm đối với cổ phần, phần vốn góp này trong pháp nhân.
Trường hợp tài sản bảo đảm đã được xử lý và được chuyển giao quyền sở hữu thì cơ quan có thẩm quyền áp dụng một trong các văn bản sau đây để thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người nhận chuyển giao:
- Hợp đồng mua bán, hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng chuyển giao khác về quyền sở hữu tài sản bảo đảm giữa chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền bán tài sản với người nhận chuyển giao;
- Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá;
- Hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản khác chứng minh việc chuyển quyền sở hữu tài sản bảo đảm.
Trường hợp pháp luật quy định việc chuyển giao quyền sở hữu phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu, văn bản thỏa thuận giữa chủ sở hữu tài sản, người có quyền bán tài sản với người nhận chuyển giao hoặc giữa người phải thi hành án với người nhận chuyển giao về việc xử lý tài sản bảo đảm thì những văn bản quy định tại khoản 2 Điều 58 được dùng để thay thế cho các loại giấy tờ đó.
Người mua được tài sản bảo đảm thông qua đấu giá tài sản tại tổ chức có thẩm quyền được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Đấu giá tài sản, luật khác liên quan.
Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm
- Trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm thỏa thuận về xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm được xác lập quyền sở hữu theo quy định tại Điều 223 của Bộ luật Dân sự.
- Bên nhận bảo đảm phải cung cấp hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản khác có thỏa thuận về việc mình có quyền được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, Giấy chứng nhận về tài sản bảo đảm (nếu có) cho cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật liên quan.
Xử lý tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai
Việc xử lý tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai thực hiện theo thỏa thuận của các bên. Thỏa thuận này có thể có các nội dung:
- Trường hợp tài sản bảo đảm chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp thuộc đối tượng phải đăng ký theo quy định của pháp luật thì bên nhận bảo đảm có thể chuyển nhượng hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng khác về xác lập quyền đối với tài sản hình thành trong tương lai, nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm hoặc bán tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật;
- Trường hợp tài sản bảo đảm đã hình thành và bên bảo đảm đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thì bên nhận bảo đảm có thể nhận chính tài sản này để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm hoặc xử lý theo quy định chung về xử lý tài sản bảo đảm đối với tài sản hiện có.