1.Pháp nhân là gì ?

Pháp nhân là một tổ chức (một chủ thể pháp luật) có tư cách pháp lý độc lập, có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội… theo quy định của pháp luật. Đây là một khái niệm trong luật học dùng để phân biệt với thể nhân (cá nhân) và các tổ chức khác. 

2.Quy định chung về bảo lãnh của pháp nhân khác 

Một hoạt động bảo lãnh chuyên nghiệp tương tự với bảo lãnh ngân hàng là bảo lãnh vay vôn ngân hàng của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa được Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa cấp bảo lãnh tín dụng. Việc bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên tài sản bảo đảm hoặc phương án sản xuất, kinh doanh khả thi hoặc xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Quỹ bảo lãnh tín dụng do ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập và quản lý để cấp bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (trước đó Quỹ này cấp cho 4 đối tượng khách hàng sau: các doanh nghiệp nhỏ và vừa; các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; các hộ kinh doanh; các chủ trang trại, các hộ nông dân,ngư dân thực hiện dự án nuôi thủy sản, đánh bắt xa bò, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi).

Một trong những điều kiện được bảo lãnh tín dụng là phải có biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh vay vốn theo quy định tại Điều 25 về "Biện pháp bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh vay vốn”, Nghị định số 34/2018/NĐ-CP. Trước đó pháp luật đã từng yêu cầu doanh nghiệp phải có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật tối thiểu bằng 30% giá trị khoản vay.

Quỹ bảo lãnh tín dụng xem xét cấp bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tôì đa bằng 100% giá trị khoản vay (bao gồm cả vốn lưu động và vốn trung, dài hạn) tại tổ chức cho vay. Trước đó, pháp luật đã từng quy định tối đa bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay và giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng tại tổ chức tín dụng

Doanh nghiệp đầu tư cho cơ sở vật chất - kỹ thuật hoạt động giải mã công nghệ, tổ chức, cá nhân thực hiện việc giải mã công nghệ được hưỗng ưu đãi bảo lãnh vay vốn từ Quỹ Đổi mói công nghệ quốc gia, tổ chức tín dụng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, doanh nghiệp được quyền bảo lãnh để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của cá nhân, doanh nghiệp và pháp nhân khác. Tuy nhiên, nếu Điều lệ doanh nghiệp không quy định rõ thì việc bảo lãnh phải bảo đảm không vi phạm nghĩa vụ của người quản lý và người đại diện theo pháp luật về việc trung thực, cẩn trọng, trung thành với lợi ích của doanh nghiệp, không “sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác”.

3.Điều kiện bảo lãnh cho công ty con vay vốn tổ chức tín dụng 

Đối với doanh nghiệp nhà nước thì được phép bảo lãnh cho công ty con vay vốn tại tổ chức tín dụng, với các điều kiện sau:

Khi các doanh nghiệp nhà nước chỉ thực hiện bảo lãnh cho các công ty con vay vốn tại các tổ chức tín dụng trong nước với điều kiện công ty con được bảo lãnh phải có tình hình tài chính lành mạnh, không có các khoản nợ quá hạn; việc bảo lãnh vay vốn để thực hiện dự án đầu tư phải trên cơ sở thẩm định hiệu quả của dự án đầu tư và phải có cam kết trả nợ đúng hạn đối với khoản vay được bảo lãnh;

Do đó tổng số nợ phải trả (tổng mức vốn huy động để phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước), bao gồm cả các khoản bảo lãnh vay vốn của các công ty con do doanh nghiệp nhà nước là công ty mẹ, không quá 3 lần vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm huy động vốn;

Quy định về tổng giá trị các khoản bảo lãnh vay vốn đối với một công ty con do doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ không quá giá trị vốn chủ sở hữu của công ty con theo báo cáo tài chính quý hoặc năm gần nhất tại thời điểm bảo lãnh;

Các khoản bảo lãnh có tổng giá trị vay vốn đối với công ty con do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ không được vượt quá giá trị vốn góp thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm bảo lãnh.

Đốì với việc bảo lãnh phát hành chứng khoán được thực hiện theo quy định của Luật Chứng khoán năm 2019. Theo đó, tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán là công ty chứng khoán và tổ chức khác được ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.

Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 lại quy định, ngân hàng thương mại không được trực tiếp bảo lãnh phát hành chứng khoán, mà chỉ có thể sử dụng công ty con, công ty liên kết để thực hiện loại hình bảo lãnh này.

Vì vậy, theo hai đạo luật này thì các công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại phải là công ty chứng khoán thì mới được phép thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán.

Có một số pháp nhân khác cũng được pháp luật quy định rõ có chức năng bảo lãnh. Đó là các quỹ phát triển khoa học và công nghệ được quy định một trong những nhiệm vụ là bảo lãnh vốh vay đốì với một số nhiệm vụ khoa học và công nghệ chuyên biệt hoặc phục vụ yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân.

Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia hỗ trợ việc bảo lãnh vay vốn từ tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp đầu tư cho cơ sở vật chất - kỹ thuật hoạt động giải mã công nghệ và đối với tổ chức, cá nhân thực hiện việc giải mã công nghệ.

Riêng công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không được sử dụng vốn và tài sản của quỹ đại chúng để thực hiện các hoạt động “cho vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào”.

Những năm 1990, một số cơ quan nhà nước như úy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Tài chính còn bảo lãnh cho một số Ban quản lý dự án trong việc vay vốh của ngân hàng thương mại để xây dựng các công trình của địa phương. Chẳng hạn như sở Tài chính thành phố Hải Phòng đã bảo lãnh cho Ban quản lý công trình cầu Tiên Cựu, Vĩnh Bảo, Hải Phòng vay vốh của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank).

Đối với trường hợp bảo lãnh của công ty con cho công ty mẹ mà công ty con lại thuộc sở hữu vốn 100% của công ty mẹ thì vẫn là giao dịch bảo lãnh, vì đây là hai pháp nhân khác nhau. Tuy nhiên, về giá trị kinh tế thì rất ít ý nghĩa, vì toàn bộ tài sản của công ty con cũng chính là một phần tài sản của công ty mẹ.

Bên cạnh đó, có một loại giao dịch dễ bị nhầm lẫn vổi biện pháp bảo lãnh, đó là cam kết bảo lãnh của công ty cho chi nhánh hoặc một đơn vị phụ thuộc khác. Đây không phải là quan hệ bảo lãnh, mà chỉ là một cam kết trả nợ, vì chỉ có một pháp nhân duy nhất là công ty phải gánh chịu nghĩa vụ trả nợ cuối cùng, trong khi tham gia giao dịch bảo lãnh phải là các pháp nhân, cá nhân độc lập.

4.Bảng tổng hợp các tiêu chí bảo lãnh của một số tổ chức thực hiện bảo lãnh

TT

\...Tổ chức

\ bảo lãnh

Tiêu chí \

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ (Bộ Tài chính)

Ngân hàng thương mai •

1

Hiệu quả của phương án, dự án

Không quy đỉnh

2

Khả năng trả nợ

3

Vôh chủ sở hữu

> 15%

> 15%

>20%

Không quy định

TT

\....Tổ chức

\ bảo lãnh

Tiêu chí \

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ (Bộ Tài chính)

Ngân hàng thương mại •

4

Nợ Xấu

Không có

Không có

Không quy định

Không quy định

5

Bảo đảm cho bảo lãnh

100%

> 15%

Không quy định

6

Phí bảo lãnh

0,5%

Do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định

<2%

Thỏa thuận

 

5. Quy trình thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng

Căn cứ theo nghị định số 34/2018/NĐ-CP quy định :

1. Khi có nhu cầu thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng Đề án thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Đề án thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng bao gồm các nội dung cơ bản sau:

a) Sự cần thiết thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương; quy mô, phạm vi, nội dung hoạt động và tác động của việc thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng đến sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương;

b) Phương án và nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng, trong đó nêu rõ về nguồn đóng góp vốn điều lệ đã được bố trí trong nguồn chi đầu tư phát triển của ngân sách địa phương (thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn được cấp có thẩm quyền phê duyệt) đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này;

c) Dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng phù hợp với quy định tại Nghị định này và quy định của pháp luật liên quan;

d) Danh sách các thành viên dự kiến là Chủ tịch, Kiểm soát viên, Giám đốc, Phó giám đốc và Kế toán trưởng Quỹ bảo lãnh tín dụng, đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại Nghị định này;

đ) Thuyết minh cụ thể về cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Nghị định này;

e) Phương án tổ chức điều hành hoạt động Quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Điều 14 Nghị định này;

g) Phương án tài chính và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng dự kiến trong vòng 05 năm sau khi thành lập và hiệu quả hoạt động dự kiến của Quỹ để chứng minh tính khả thi của việc thành lập.

2. Trường hợp đủ điều kiện thành lập và việc thành lập là khả thi, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét phê duyệt các nội dung về thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm: vốn điều lệ và nguồn hình thành vốn điều lệ, vốn huy động, mô hình và cơ cấu tổ chức, bộ máy hoạt động và các nội dung khác liên quan đến Quỹ bảo lãnh tín dụng theo yêu cầu quản lý của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

3. Căn cứ Đề án thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng quy định tại khoản 1 Điều này đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Quyết định thành lập, phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng.

4. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban hành Quyết định thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi thông báo cho Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kèm theo Quyết định thành lập và Quyết định ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng.

5. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban hành Quyết định thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ bảo lãnh tín dụng có trách nhiệm thông báo công khai việc thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

6. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ban hành Quyết định thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, ngân sách địa phương có trách nhiệm cấp đủ vốn điều lệ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này.