Phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, sửa những sai lầm và vi phạm của tòa án sơ thẩm, bảo đảm việc áp dụngthống nhất pháp luật. Giai đoạn phúc thẩm dân sự là một giai đoạn tố tụng dân sự có tính độc lập và liên quan chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng dân sự khác. Nhiệm vụ trực tiếp của giai đoạn này là kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Với nhiệm vụ này tại giai đoạn phúc thẩm, Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự

1. Quy định cụ thể về việc thực hiện nguyên tắc chứng minh trong giai đoạn thụ lý đơn kháng cáo, kháng nghị

a. Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự tại giai đoạn thụ lý đơn kháng cáo, kháng nghị.

Theo quy định tại điều khoản 8 Điều 272 BLTTDS 2015  Người nộp đơn kháng cáo phải đáp ứng các điều kiện như người khởi kiện. Khi nộp đơn kháng cáo, đương sự phải gửi kèm các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc kháng cáo của mình là đúng nếu có. Nói cách khác, đương sự phải đưa ra các lí lẽ, căn cứ và tài liệu, chứng cứ chứng minh phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm là sai, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hoặc đưa ra các tài liệu, chứng cứ mới mà ở giai đoạn xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm không thể thu thập, cung cấp được, hoặc không biết để thu thập, cung cấp.

Trường hợp nộp đơn kháng cáo quá hạn thì người kháng cáo phải trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh lý do nộp  đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng (khoản 2 Điều 274 BLTTDS 2015).

1.2. Trách nhiệm chứng minh của người tiến hành tố tụng.

  • Trách nhiệm chứng minh của Tòa án

Tòa án tiến hành trách nhiệm chứng minh của mình như tại giai đoạn thụ lý khởi kiện vụ án. Cụ thể: Tòa án tiến hành kiểm tra đơn kháng cáo, tài liệu liệu, chứng cứ kèm đơn; yêu cầu chứng minh trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị quá hạn, tổ chức phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn... từ đó đưa ra quyết định: trả lại đơn kháng cáo, kháng nghị; thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị. Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày: Hết thời hạn kháng nghị; hoặc hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo đã nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

  • Trách nhiệm chứng minh của Viện kiểm sát:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 BLTTDS 2015 Kiểm sát viên được phân công thực hiện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn “Yêucầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này”; tham dự phiênhọp xem xét kháng cáo quá hạn và nêu ý kiến.

Theo quy định tại 6 điều 97 BLTTDS 2015 quy định Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm,... VKS gửi kháng nghị kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứbổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của VKS là có căn cứ và hợp pháp (khoản 2 Điều 279 BLTTDS 2015).

2.  Quy định cụ thể về việc thực hiện nguyên tắc chứng minh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

2.1. Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự.

Thứ nhất, đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các đương sự thực hiện nguyên tắc chứng minh bằng cách chứng minh cho yêu cầu của mình bằng các cách thức như tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, có những nét khác biệt so với giai đoạn xét xử sơ thẩm. Giai đoạn này việc chứng minh không chỉ dựa trên tài liệu, chứng cứ đã được cung cấp từ giai đoạn sơ thẩm mà còn có thể bổ sung, cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh mới. (Phụ lục 3). Nguyên nhân xuất hiện tình trạng cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới được quy định tại Khoản 1 Điều 287 BLTTDS 2015 là: Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do chính đáng. Lý do chính đang ở đây có thể gồm nhiều nguyên nhân khác nhau trong từng tình huống cụ thể.

Song có thể tổng quát lại một số lý do chung, thường thấy như: không tìm được, biết nhưng không thu thập được (do mất, do không thể tìm được người lưu giữ tài liệu, chứng cứ đó mà giờ mới tìm lại được... Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đường sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm. Đương sự không thể biết được về tài liệu, chứng cứ thường thuộc trường hợp người tiến hành giao dịch là một người đã mất tích, đã chết, không truyền lời lại cho những người ở nhà, hoặc người thừa kế biệt về những tài liệu, chứng cứ đó. Sau đó, do vô tình mà tìm được các tài liệu, chứng cứ đó.

Ngoài ra, cũng có trường hợp do đương sự cố tình “giữ” tài liệu, chứng cứ quan trọng, không xuất trình tại giai đoạn xét xử sơ thẩm. Thông thường hành vi cố ý “giữ tài liệu của đương sự xuất phát từ nguyên nhân, đương sự cho rằng việc cung cấp tài liệu, chứng cứ phục vụ cho giai đoạn xét xử sơ thẩm không đảm bảo được quyền lợi của họ do: bên kia có mối quan hệ đặc biệt với những người tiến hành tố tụng, việc đưa tài liệu, chứng cứ ra sẽ không thực hiện được đúng vai trò của nó; hoặc thường bản án sơ thẩm luôn bị kháng cáo, kháng nghị yêu cầu xét xử phúc thẩm, nếu đưa ra sớm có nguy cơ bên kia tìm cách phủ định tài liệu, chứng cứ đó trong giai đoạn phúc thẩm. Việc xuất trình chứng cứ mới tại giai đoạn phúc thẩm cũng đưa đến nguy cơ kéo dài vụ án và đặt bản án cấp sơ thẩm vào tình trạng bị hủy.

Thứ hai, đương sự có nghĩa vụ gửi tài liệu, chứng cứ kèm đơn kháng cáo, Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác.

2.2.  Trách nhiệm chứng minh của người tiến hành tố tụng tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Trách nhiệm tiếp nhận tài liệu, chứng cứ của Tòa án: Tòa án xét xử sơ thẩm sẽ chuyển giao hồ sơ vụ án, trong đó bao gồm cả tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xét xử phúc thẩm. Vai trò của Tòa án cấp phúc thẩm ở giai đoạn này chỉ dừng ở việc tiếp nhận việc giao nộp tài liệu, chứng cứ (Điều 287 BLTTDS 2015) và thông báo các hoạt động tố tụng cho đương sự và viện kiểm sát. Thủ tục giao nhận chứng cứ bổ sung được thực hiện tương tự như trong giai đoạn khởi kện và chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Biên bản giao nộp chứng cứ phải được ghi kèm theo hồ sơ vụ án dân sự cho Tòa án cấp phúc thẩm. Trường hợp đương sự kháng cáo gửi bổ sung chứng cứ theo đơn kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện việc giao nhận chứng cứ theo thủ tục chung. Tòa án cấp phúc thẩm chuyển đơn kháng cáo, biên bản giao nhận chứng cứ bổ sung và chứng cứ bổ sung cho Tòa án cấp phúc thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết và gửi kèm theo hồ sơ VADS cho Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định của BLTTDS 2015. Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cùng với quyết định đưa vụ án ra xét xử cho VKS cùng cấp nghiên cứu.

Trách nhiệm chứng minh của viện kiểm sát: Viện kiểm sát kháng nghị bản án sơ thẩm trong trường hợp việc thực hiện nguyên tắc chứng minh bị vi phạm. Viện kiểm sát nghiên cứu, xem xét, đánh giá nội dung vụ án. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo quyền kháng nghị. Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động giao nộp tài liệu, chứng cử tại Tòa án.

3. Thực hiện nguyên tắc chứng minh trong thủ tục xét xử phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm

3.1. Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm

Các tài liệu, chứng cứ sử dụng chứng minh tại giai đoạn này bao gồm các tài liệu, chứng cứ đã được cung cấp tại giai đoạn: giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, giai đoạn chuẩn bị xét xử, giai đoạn xét xử sơ thẩm. Việc tiếp tục chỉsử dụng các chứng cứ, tài liệu đã cung cấp ở giai đoạn trước là do các nguyên nhân sau: Vụ án chỉ có các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp. Và bản án, quyết định sơ thẩm đánh giá không đúng, không đầy đủ, chính xác, toàn diện các chứng cứ, tài liệu đã cung cấp. Việc đề nghị kháng cáo hoặc kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm nhằm mục đích yêu cầu xem xét, đánh giá lại các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp một cách đầy đủ, toàn diện và chính xác hơn.

Do đó, tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài việc chứng minh phần lớn chỉ xoay quanh những tình tiết còn mâu thuẫn mà phiên tòa sơ thẩm giải quyết nhưng các bên chưa thống nhất. Việc chứng minh tại Tòa phúc thẩm có thể còn quanh các tài liệu, chứng cứ mới.

Tại phiên tòa phúc thẩm việc chứng minh của đương sự cũng xoay quanh các thủ tục cơ bản như trình bày, giao nộp chứng cứ, hỏi – trả lời tại phiên tòa, tranh luận.  Về cơ bản các hoạt động tranh luận hoặc tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm cũng với mục đích là chứng minh cho yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, yêu cầu của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm không hoàn toàn giống phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: có thể chỉ là một phần của yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm đã giải quyết nhưng đương sự chưa thỏa mãn. Về tố tụng: có thể chỉ là yêu cầu tố tụng như yêu cầu hủy một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm trước đó. Vì thế mục đích chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm của đương sự, không chỉ dừng lại tại việc chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng mà còn đồng thời kết hợp chứng minh cho bản án sơ thẩm có sai lầm. Về cơ bản để tranh luận, tranh tụng tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có) phải xác định được tất cả những nội dung, tình tiết trong vụ án. Mà để nắm được tất cả các tình tiết, nội dung đó, không gì ngoài việc nắm chắc những tài liệu, chứng cứ đã được cung cấp mà họ được tiếp cận. Việc thực hiện có hiệu quả hoạt động tranh luận, tranh tụng cần xem xét khả năng tranh luận, tranh tụng của mỗi bên và tài liệu, chứng cứ họ được tiếp xúc.

3.2. Trách nhiệm chứng minh của người tiến hành tố tụng.

Trách nhiệm chứng minh của Tòa án: Giống như BLT.TDS 2004, BLTTDS 2015 cũng quy định trách nhiệm chứng minh của Tòa án tại phiên tòa phúc thẩm tương tự như trong phiên tòa sơ thẩm, cụ thể Tòa án tiến hành:

- Tiếp nhận chứng cứ mới được giao nộp; Hội đồng xét xử sẽ xem xét cã chứng cứ cũ và chứng cứ mới được bổ sung. Thực hiện thủ tục cho đương sự giao nộp chứng cứ tại phiên tòa phúc thẩm.

- Hỏi tại phiên tòa để làm rõ những vấn đề còn mâu thuẫn hoặc vấn đề mới trong chứng cứ mới.

Chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đường sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp trong trường hợp vắng mặt một trong các bên đương sự và người tham gia tố tụng khác. Đối với thủ tục hỏi và công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như phiên tòa sơ thẩm nhưng có sự khác biệt là tại phiên tòa phúc thẩm chỉ giới hạn những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm, đó là những phần bị kháng cáo, kháng nghị và các phần có liên quan. Cho nên, chứng cứ có được tại phiên tòa phúc thẩm vẫn được sử dụng để giải quyết vụ án như phiên tòa sơ thẩm, được dùng để làm cơ sở để HĐXX phúc thẩm ra bản án giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền.

Trách nhiệm chứng minh của Viện kiểm sát: Theo quy định tại Điều 300, 301, 302 BLTTDS 2015 quy định tại phiên tòa phúc thẩm, VKS nói chung và KSV nói riêng có nhiều trách nhiệm chứng minh hơn:

- Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị, căn cứ của việc kháng nghị;

- Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ quy định. Việm kiểm sát, kiểm sát  viên vào giai đoạn phúc thẩm được giao nhiều tráchnhiệm chứng minh hơn so với giai đoạn sơ thẩm bởi:

Tại phiên tòa phúc thẩm VKS, KSV không chỉ đóng vai trò kiểm sát hoạt động TTDS nữa mà còn tham gia kháng nghị nội dung vụ án. Khi đó, vì kháng nghị nội dung bản án nên VKS, KSV có trách nhiệm phải cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc kháng nghị của mình là có căn cứ và hợp pháp.

 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê