khá cao trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Họ là đối tượng gặp nhiều thiệt thòi và phải chịu nhiều định kiến xã hội, bởi vậy, trong suốt những năm qua, cùng với việc thực hiện các công ước quốc tế về người khuyết tật, Nhà nước ta đã ban hành nhiều hệ thống văn bản pháp luật với những quy định có sự thay đổi phù hợp để tạo cho họ có một cuộc sống ổn định, giúp họ hòa nhập với cộng đồng, vượt qua rào cản định kiến xã hội vươn lên phát triển như bao con người bình thường khác trong xã hội.

1. Khái niệm người khuyết tật theo quy định pháp luật hiện hành ?

Trên thế giới hiện này đang tồn tại hai quan điểm về người khuyết tật: quan điểm dưới góc độ y tế và quan điểm theo mô hình xã hội.

Dưới góc độ y tế, người khuyết tật là những người có tình trạng khiếm khuyết về thể chất, tinh thần hoặc trí tuệ làm mất đi khả năng tham gia vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.

Dưới góc độ xã hội. Khuyết tật không chỉ là tình trạng khiếm khuyết của cá nhân mà còn là sự “khiếm khuyết” của xã hội. Sự khiếm khuyết của xã hội thể hiện ở việc tạo ra các rào cản về thái độ, nhận thức, chính sách,... khiến cho người khuyết tật không có cơ hội được tham gia một cách đầy đủ và hiệu quả vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội trên cơ sở sự bình đẳng với những công dân khác. Quan điểm này đã khắc phục được nhược điểm của quan niệm khuyết tật theo mô hình y tế. Nó nêu ra biện pháp đó là phải thay đổi xã hội, thay đổi nhận thức của cộng đồng, từ đó xóa bỏ rào cản, giúp người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng, phát huy khả năng của bản thân, hưởng đầy đủ các quyền và được gánh vác những nghĩa vụ như những công dân khác.

Ở Việt Nam, khái niệm Người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam được ghi nhận trong khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010; theo đó,

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.

2. Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là gì ?

Bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạn, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Bảo trợ xã hội là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như người bình thường khác và không đủ khả năng tụ lo liệu. Ý nghĩa pháp luật của bảo trợ xã hội xuất phát từ quyền cơ bản của con người. Mỗi người sống trong xã hội đều có quyền được sống, được bình đẳng, được thương yêu, đùm bọc, bảo vệ khỏi những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe dọa.

Xuất phát từ khái niệm bảo trợ xã hội nói chung, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật được hiểu là tổng hợp các cơ chế, chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ người khuyết tật, trước hết và chủ yếu là những khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác nhằm giúp cho đối tượng ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng.

Mức chuẩn trợ giúp xã hội làm căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội được xác định tại Nghị định 136/2013/NĐ-CP là 270.000 đồng.

Nội dung của bảo trợ xã hội cho người khuyết tật cũng chính là các nội dung của bảo trợ xã hội nói chung áp dụng với đối tượng hưởng là người khuyết tật khi thỏa mãn các điều kiện hưởng trong các chế độ trợ cấp, hỗ trợ, gồm các nội dung: Trợ cấp xã hội, Hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng; Nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội; Hoạt động và trách nhiệm của cơ sở chăm sóc người khuyết tật; Hỗ trợ mai táng phí.

3. Ý nghĩa của các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật

Theo kết quả điều tra quốc gia về người khuyết tật tại Việt Nam do Tổng cục thống kê và Quỹ nhi đồng liên hợp quốc thực hiện thì ở Việt Nam, có hơn 6 triệu người khuyết tật và gần 12 triệu người sống chung trong gia đình có người khuyết tật. Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động. Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai,… Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn. Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng.

Do vậy, Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, trước tiên đó là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất nhằm bảo đảm quyền con người của người khuyết tật.

Bên cạnh đó, dưới góc độ kinh tế, Bảo trợ xã hội còn là biện pháp kinh tế góp phần đẩy lùi nghèo đói, khắc phục rủi ro, thúc đẩy kinh tế, phát triển. Các khoản trợ cấp bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật còn có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợi cho các thành viên yếu thế, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống, giảm bớt bần cùng, nghèo đói.

Đây cũng là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình khi gặp rủi ro, hạn chế về sức khỏe; góp phần làm giảm thiểu những bất ổn xã hội, ổn định xã hội, ổn định chính trị bởi lẽ khi rơi vào cảnh túng quẫn, phân biệt đối xử con người sẽ dễ nảy sinh những hành vi lệch lạc về chuẩn mực đạo đức.

4. Quy định của pháp luật về trợ cấp xã hội cho người khuyết tật.

Trợ cấp xã hội là chế độ trợ cấp cơ bản của hoạt động bảo trợ xã hội. Đây là khoản trợ cấp, hỗ trợ định kỳ hàng tháng được nhà nước đảm bảo chi trả cho đối tượng người khuyết tật đủ điều kiện được hưởng nhằm trợ giúp cho họ vượt qua khó khăn của cuộc sống thường nhật.

Trợ cấp xã hội được ghi nhận tại Điều 4 Luật người khuyết tật năm 2010 và khoản 6 Điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội gồm có:

Điều 44. Trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng

1. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật này;

b) Người khuyết tật nặng.

2. Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:

a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó;

b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;

c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

3. Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật.

Hồ sơ thực hiện trợ cấp xã trước đây được thực hiện theo Điều 20 nghị định 28/2012/NĐ-CP tuy nhiên Điều 20 đã bị bãi bỏ bởi Điều 18 nghị định 140/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Vậy, Quý khách hàng có thể tham khảo quy định về hồ sơ thực hiện trợ cấp xã hội cho người khuyết tật thuộc diện hưởng theo nghị định 20/2021/NĐ-CP sẽ có hiệu lực vào 01/07/2021 bao gồm: Tờ khai của đối tượng (Mẫu 1a, 1b, 1c, 1đ - Ban hành kèm theo nghị định 20/2021/NĐ-CP). Hoặc hồ sơ quy định tại nghị định 136/2013/NĐ-CP sửa đổi bổ sung tại nghị định 140/2018/NĐ-CP hiện đang có hiệu lực như sau:

Điều 7. Hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội hàng tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hàng tháng2

1. Hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm: Tờ khai của đối tượng theo Mẫu số 1a, 1b, 1c, 1d và 1đ Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này.

5. Quy trình giải quyết hồ sơ thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho người khuyết tật.

Quy trình giải quyết được thực hiện theo hướng dẫn tại nghị định 136/2013/NĐ-CP và nghị định 140/2018/NĐ-CP.

- Người khuyết tật hoặc người giám hộ hoặc cá nhân có liên quan chuẩn bị hồ sơ nêu trên, gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

- Người nộp hồ sơ xuất trình các giấy tờ cần thiết để đối chiếu: Sổ hộ khẩu của đối tượng hoặc văn bản xác nhận của công an xã, phường, thị trấn; Chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân; Giấy khai sinh của trẻ em đối với trường hợp xét trợ cấp xã hội đối với trẻ em, người đơn thân nghèo đang nuôi con, người khuyết tật đang nuôi con; Giấy tờ xác nhận bị nhiễm HIV của cơ quan y tế có thẩm quyền đối với trường hợp bị nhiễm HIV; Giấy tờ xác nhận đang mang thai của cơ quan y tế có thẩm quyền đối với trường hợp người khuyết tật đang mang thai; Giấy xác nhận khuyết tật đối với trường hợp người khuyết tật.

Thời gian thực hiện:

- Rà soát, kiểm tra trình Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, duyệt hồ sơ trong 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ;

- Niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã trong 05 ngày làm việc;

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ của đối tượng gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày hồ sơ được xét duyệt và không có khiếu nại;

- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng trong thời gian 07 ngày làm việc kể từ nhận nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch UBND cấp xã;

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trình của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

Tổng thời gian thực hiện nếu không có khiếu nại, rơi vào khoảng 28 ngày làm việc. Nếu có khiếu nại, chủ tịch UBND cấp xã sẽ giải quyết trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Tới ngày 01/07/2021 khi nghị định số 20/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì thời gian nêu có thể giảm xuống còn khoảng 22 ngày làm việc.

Trân trọng!

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Có bao nhiêu dạng khuyết tật theo quy định của pháp luật hiện hành ?

Trả lời:

Trả lời:

Điều 2 nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định có 5 dạng tật chính bao gồm:

- Khuyết tật vận động;

- Khuyết tật nghe nói;

- Khuyết tật nhìn;

- Khuyết tật thần kinh - tâm thần;

- Khuyết tật trí tuệ.

Và các dạng khuyết tật khác không thuộc 5 trường hợp kể trên.

Trân trọng!

Câu hỏi: Mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng cho người khuyết tật năm 2021 là bao nhiêu ?

Trả lời:

Trả lời:

Mức chuẩn trợ giúp, trợ cấp xã hội xã hội hiện nay theo nghị định 136/2013/NĐ-CP là 270.000 đồng.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01/07/2021, mức chuẩn trợ giúp xã hội sẽ tăng lên là 360.000 đồng theo quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP.

Trân trọng!

Câu hỏi: Những người nào được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng ?

Trả lời:

Trả lời:

Điều 5 nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm các đối tượng được bảo trợ xã hội sau:

"1. Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

b) Mồ côi cả cha và mẹ;

c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

e) Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

i) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

k) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Người thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học, nhưng tối đa không quá 22 tuổi.

3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

4. Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 đến 22 tuổi và người con đó đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất quy định tại khoản 2 Điều này (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng;

b) Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi đến 80 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc diện quy định ở điểm a khoản này đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn;

c) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại điểm a khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

d) Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

6. Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

7. Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 3 và 6 Điều này đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

8. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng như tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hàng tháng."

Trân trọng!