- 1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
- 2. Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu
- a. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật
- b. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
- d. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lần
- e. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép
- f. Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
- Giao dịch dân sự là một hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương. Kết quả của việc giao xác lập giao dịch dân sự sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự.
- Một giao dịch dân sự được coi là giao dịch hợp lệ nếu nó đáp ứng được các điều kiện sau: căn cứ theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”
Căn cứ theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu
Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.”
- Như vậy, có thể hiểu giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự được xác lập bởi hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương, nhưng không đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015
2. Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu
a. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật
Căn cứ theo quy định tại điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 thì giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội khi:
Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Những giao dịch dân sự vi phạm quy định này là những giao dịch dân sự đương nhiên vô hiệu và thuộc trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối.
Ví dụ về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội:
Giao dịch mua bán ma tuý. Đây là giao dịch đương nhiên vô hiệu tuyệt đối. Do ma tuý là chất cấm theo quy dịnh của pháp luật. Việc mua bán trái phép chất ma tuý là hành vi vi phạm pháp luật, trái với đạo đức xã hội. Những giao dịch có tính chất tương tự như giao dịch này đều bị coi là vô hiệu.
b. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Căn cứ theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo trong các trường hợp sau:
- Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan.
Ví dụ: ông A kí một giao dịch dân sự tặng cho tài sản cho anh B nhằm che giấu hợp đồng gửi giữ tài sản của mình trước đó. Trong trường hợp này, giao dịch dân sự tặng cho tài sản là giao dịch giả tạo và sẽ bị coi là vô hiệu; hợp đồng gửi giữ trước đó vẫn sẽ có hiệu lực.
- Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Ví dụ: ông A có vay của anh B một số tiền là 100 triệu đồng, nhưng để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của mình ông A đã thoả thuận giao kết hợp đồng tặng cho tài sản của ông A cho chị C. Trên thực tế, chị C không được nhận số tài sản này, việc xác lập giao dịch này chỉ nhằm giúp ông A trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, giao dịch tặng cho tài sản này sẽ là giao dịch vô hiệu.
Tất cả những giao dịch giả tạo như trên đều bị coi là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối
c. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
Căn cứ theo Điều 125. Bộ luật Dân sự 2015 giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện, giao dịch vô hiệu trong các trường hợp sau:
- Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ các trường hợp sau:
+ Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
+ Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
+ Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”
Những giao dịch dân sự được xác lập bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được coi là giao dịch vô hiệu tương đối
d. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lần
Căn cứ theo quy định tại Điều 126. Bộ luật dân sự 2015 giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lần khi
Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được
Nhầm lẫn ở đây là việc các bên trong giao dịch dân sự hiểu sai về nội dung của giao dịch dẫn đến việc gây thiệt hại cho chính mình hoặc cho bên kia. Nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu.
Ví dụ: A là chủ đại lý bán xe và phụ tùng xe. Nhân kỉ niệm 3 năm bán hàng, A quyết định giảm giá 40% cho tất cả các loại phụ tùng. Do B hiểu sai về nội dung khuyến mại của cửa hàng A nên quyết định đặt mua 10 chiếc xe để bán lại cho cửa hàng của C để ăn hoa hồng. Khi A chuyển xe tới và thanh toán tiền B mới biết chương trình khuyến mãi chỉ áp dụng cho phụ tùng xe chứ không áp dụng cho xe. Trong trường hợp này B là người bị nhầm lẫn và là bên bị thiệt hại bởi giao dịch này. => B có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch này vô hiệu do nhầm lẫn
e. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép
Căn cứ theo quy định tại Điều 127. Bộ luật dân sự 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong các trường hợp sau:
- Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
- Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
- Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.
+ Ví dụ lừa dối: A lừa bán hàng giả cho B với số tiền lớn. Đây là giao dịch dân sự bị lừa dối. B có quyền yêu cầu Toà tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
+ Ví dụ đe doạ, cưỡng ép: A phát hiện ra B bán hàng giả và báo cho vài người biết. Để lấy lại lòng tin của mọi người B đe doạ và ép A phải mua hàng của mình và đính chính lại là B bán hàng thật; nếu không sẽ đập phá nhà của A
f. Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Căn cứ theo Điều 128. Bộ luật dân sự 2015 thì:
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Ví dụ: A trong lúc say rượu đã ký giấy mua lại một chiếc xe với giá đắt hơn rất nhiều so với giá thị trường. Trong trường hợp này, A xác lập giao dịch dân sự trong tình trạng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự của mình, A có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu
g. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Căn cứ theo quy định tại Điều 129. Bộ luật dân sự 2015:
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
- Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
- Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực