1. Quyền thừa kế, cách giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh trai tôi chết, có để lại sổ quyền sở hữu cổ phần với 920 cổ phiếu theo mệnh giá có giá trị 9200000 (chín triệu hai trăm ngàn) theo luật thì phải có sự đồng ý của các người có quyền thừa kế để chuyển cho vợ của anh tôi, nhưng như vậy thì quá phức tạp cho việc này (thủ tụ rườm rà :phải đi chứng thực biên bản chia di sản thừa kế) mà mọi người thì ở xa.
Vậy Tôi xin hỏi có cách nào để để chuyển QSH cho vợ anh tôi mà không theo cách trên ?
Rất mong quí vị trả lời sớm nhất có thể. Trân trọng cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Những người có quyền thừa kế có thể ủy quyền cho người khác để làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Việc ủy quyền trong trường hợp này cần được lập thành văn bản và phải công chứng tại văn phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND xã.

Thưa luật sư, xin hỏi: Hiện nay gia đình tôi đang muốn bán đất ở của gia đình nhưng chưa có giấy tờ gì cả thì thủ tục phải làm những gì? Mảnh đất này là của chồng tôi được thừa kế lại từ bà nội tôi, vậy tôi có cần làm giấy chứng nhận quyền thừa kế? tôi có thể xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã hay không?

=> Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013 quy định:

Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

Dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 168 Luật đất đai 2013: "...trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Như vậy, nếu mảnh đất đó đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bạn có thể làm thủ tục cấp sổ đỏ, sau khi có sổ đỏ bạn có thể thực hiện thủ tục chuyển nhượng mảnh đất đó.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Cách xác định quyền thừa kế giữa con nuôi và cháu ruột?

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 2017 Mẹ tôi mất giấy tờ được chuyển sang tên cậu tôi. năm 2018 thì cậu tôi mất nhưng tôi chưa sang tên giấy tờ nhà đất, đến năm 2019 thì ngoại tôi mất toàn bộ giấy tờ được chuyển sang tên tôi. ông P là con người chồng thứ nhất của ngoại tôi, còn mẹ và cậu tôi là con của người chồng thứ 2. Từ trước đến nay gia đình tôi không hề qua lại với ông P, bây giờ Ông P đưa đơn lên kiện đòi quyền thừa kế tài sản, Ông P có giấy chứng nhận là con của bà ngoại tôi.
Thưa luật sư, vậy tôi có nguy cơ bi mất tài sản không ạ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Để xem ông P có được chia thừa kế hay không thì cần xét theo hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Mảnh đất đó thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình bạn và mẹ bạn đứng tên chủ hộ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông P cũng có trong hộ khẩu gia đình bạn theo khoản 29 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 :

“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.

thì bà bạn cũng có quyền sở hữu một phần nào đó đối với mảnh đất nói trên mà khi bà bạn mất mà không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật, mà ông P là con của bà bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết....”

nên ông P sẽ được hưởng phần mà bà bạn có đối mảnh đất trên. Trừ khi bà bạn để lại di chúc cho bạn được hưởng thừa kế.

Trường hợp thứ hai: Mẹ bạn là chủ sở hữu duy nhất của mảnh đất đó, nếu mẹ bạn mất không có di chúc thì bạn sẽ được thừa kế quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đó. Còn nếu mẹ bạn có di chúc để cho cậu của bạn đứng tên mà khi cậu mất để lại mảnh đất cho bạn thì bạn là chủ sở hữu hợp pháp đối với mảnh đất đó và ông P không có quyền được hưởng thừa kế. Nếu cậu bạn mất không có di chúc thì bà của bạn sẽ được hưởng thừa kế đối với mảnh đất. Lúc này, khi bà bạn mất mà không có di chúc thì sẽ xét theo trường hợp thứ nhất, nếu có di chúc cho bạn hưởng thì bạn sẽ là người thừa kế hợp pháp.

Nội dung mà bạn cung cấp vẫn còn chưa đủ để kết luận xem ông P có được hưởng ảnh đất đó hay không, do đó, bạn có cung cấp thêm thông tin cho chúng tôi hoặc tự đối chiếu với trường hợp trên để xác định..

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tranh chấp quyền thừa kế tại sao 10 năm chưa kết thúc?

Một di chúc “thiếu căn cứ pháp luật”, “không khách quan và không hợp pháp” từng làm khuynh đảo pháp đình, đưa vụ kiện tranh chấp thừa kế tài sản giữa bà Nguyễn Thị Kim Hoa (ấp Thạnh Yên, xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang) và bà Nguyễn Thị Phương Oanh (trú quán 563t/33 Nguyễn Đình Chiểu, phường 2, quận 3, TP. Hồ Chí Minh) kéo dài từ năm 1999 đến nay…

Vừa qua, thêm một lần phán quyết từ Bản án số 49/2008/ DSST ngày 26/8/2008 của Tòa sơ thẩm TAND tỉnh Tiền Giang gây nên bức xúc trong dư luận!?

Ngày 28/01/1997, bà Võ Thị Thành lập di chúc, có 2 người làm chứng và chứng thực của UBND xã. Trong di chúc, bà Thành để lại toàn bộ tài sản cho cháu nội là Nguyễn Thị Phương Oanh.

Có trong tay tờ di chúc, ngày 30/3/1999 bà Oanh gửi đơn kiện bà Nguyễn Thị Kim Hoa, yêu cầu cơ quan pháp luật can thiệp để được sở hữu số tài sản theo di chúc. Bất chấp một sự thật là, từ năm 1980, gia đình bà Hoa đã sinh sống ổn định, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế trên thửa đất mà ông bà ngoại Nguyễn Thiện Chơn và Võ Thị Thành để lại.

Tranh chấp quyền thừa kế: Vụ tranh chấp quyền thừa kế ở Tiền Giang 10 năm chưa kết thúc

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Do Bản án sơ thẩm số 16/DSST ngày 06/10/1999 của TAND tỉnh Tiền Giang chấp nhận đơn kiện của bà Oanh, coi di chúc là hợp pháp nên ngày 18/10/1999, VKSND tỉnh ra Quyết định số 14/QĐ -KN với nội dung: “Di chúc lập ngày 28/01/1997 về hình thức di chúc được lập bằng văn bản có 2 người làm chứng và có chứng thực của UBND xã nhưng ý chí tự nguyện của bà Võ Thị Thành chưa được bày tỏ như mong muốn của bà vì: Sau ngày lập DC bà Thành lập thêm 2 di chúc nữa vào ngày 28/3/1997 và tháng 5/1997”. Di chúc do ông Nguyễn Thiện Nhơn (con cụ Thành) tự tay viết với nội dung để lại toàn bộ di sản cho con gái ông là Phương Oanh. Theo ông Nhơn khai, di chúc do ông ghi lại toàn bộ ý kiến của mẹ ông trước mặt chính quyền địa phương. Nhưng anh Nguyễn Văn Hiền và Lê Văn Thành (công an ấp) khai: “Khi được mời đến nhà của bà Thành, bản di chúc đã được viết sẵn, đã có chữ ký của bà Thành. Di chúc được đem đến xã xác nhận cùng ngày, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Thơi ký xác nhận.

Theo lời khai của anh Hiền và anh Thành, di chúc đã được lập sẵn trước khi các anh đến nhà bà Thành, không có mặt ông Thơi. Như vậy là thiếu khách quan.

Căn cứ vào hồ sơ, chứng cứ thu thập được, VKSND tỉnh Tiền Giang có quan điểm rằng: Xác định di chúc của bà Thành là “thiếu căn cứ pháp luật, đã gây thiệt hại đến quyền lợi của đương sự”, đồng thời yêu cầu Tòa phúc thẩm Toà án Nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh “xử theo hướng bác yêu cầu của nguyên đơn xin thừa kế theo DC”.

Xét thấy tuyên xử y án sơ thẩm của Tòa phúc thẩm TANDTC TP.Hồ Chí Minh (Bản án số 86/DSPT ngày 29/3/2000) là vô lý, ngày 02/6/2000, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã gửi Công văn số 439/VPT3 đến VKSNDTC với nội dung khẳng định “bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự”, di chúc không khách quan và không hợp pháp. Ngày 15/8/2000, Chánh án TANDTC ra Kháng nghị số 12/KN-DS đối với bản án số 86, đồng thời “đề nghị Uỷ ban Thẩm phán TANDTC giải quyết lại vụ án theo hướng tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án cho đến khi có quy định mới của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.”

Ngày 01/12/2000, VKSNDTC đã có Kết luận số 232/KL-KSXXDS đối với Bản án sơ thẩm số 16 và Bản án phúc thẩm số 86 là “chưa đủ cơ sở và vi phạm khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 58/1998 ngày 20/8/1998 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Thông tư liên tịch số 01/1999 ngày 25/01/1999 TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn thực hiện nghị quyết Quốc hội.” Đồng thời, đề nghị Uỷ ban Thẩm phán TANDTC xét xử giám đốc thẩm, ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện “Tranh chấp di sản thừa kế”

Ngày 08/02/2001, Uỷ ban Thẩm phán TANDTC ra quyết định giám đốc thẩm số 04/UBTP-DS tuyên hủy 02 bản án của 02 phiên tòa nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh giải quyết theo quy định. Sau 7 năm im hơi lặng tiếng, ngày 26/8/2008, vụ án được đưa ra xét xử. Phán quyết của Bản án số 49/2008/ DSST TAND tỉnh Tiền Giang đã đưa vụ án quay về “bổn cũ” của nó (!?), đồng thời gây bức xúc cho chính quyền địa phương và trong dư luận.

(MKLAW FIRM: Biên tập)

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Tư vấn pháp luật về quyền thừa kế đất đai?

Quyền thừa kế đất đai của con cái đối với tài sản của Ông/Bà hoặc Bố/Mẹ trong những năm qua luôn tồn tại những tranh chấp tiềm ẩn có thể phát sinh giữa những người đồng thừa kế. Luật Minh Khuê phân tích và trả lời một số câu hỏi của khách hàng về việc phân chia tài sản thừa kế là đất đai, bất động sản:

Luật sư phân tích

Vấn đề 1: Tặng cho quyền sử dụng đất

Để có thể tặng cho quyền sử dụng đất,bạn tiến hành lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Hợp đồng tặng cho này phải được công chứng hoặc chứng thực.

Sau khi có hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được công chứng hoặc chứng thực, bạn thực hiện việc đăng ký biến động tại Văn phòng đăng ký đất đai nơi có bất động sản. Hồ sơ đăng ký biến động gồm:

- Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 09/ĐK ban hành kèm theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường : Quy định về hồ sơ địa chính​;

- Hợp đồng hoặc văn bản về chuyển quyền đã lập theo quy định;

- Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Bản sao có chứng thực các giấy tờ nhân thân của cả 2 bên.

Thời hạn thực hiện thủ tục đăng ký biến động do tặng cho bất động sản là 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Trường hợp tặng cho bất động sản giữa anh - em ruột với nhau thì không phải chịu thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ.

Lưu ý: Đối với trường hợp tặng cho thông qua thừa kế => Quyền hưởng di sản chỉ phát sinh tại thời điểm người để lại di sản mất mà thôi.

Vấn đề 2: Cấp sổ đỏ trong trường hợp thưa kế

Hồ sơ đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở gồm:

  • Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
  • Các giấy tờ về thừa kế như: Di chúc, Văn bản khai nhận di sản thừa kế (có công chứng nhà nước);
  • Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của người để lại di sản;
  • Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế của người chết làm cơ sở miễn nộp nghĩa vụ tài chính (thuế thu nhập cá nhân).
  • Giấy chứng tử;
  • Tờ khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Tờ khai nộp lệ phí trước bạ nhà đất.
  • Lệ phí trước bạ

Nộp trực tiếp tại Văn phòng đăng ký đất đai cấp quận/huyện nơi có bất động sản.

Vấn đề 3: Cấp sổ đỏ trong trường hợp mua bán, qua nhiều đời chủ.

Để cấp sổ đỏ, bạn cần có các giấy tờ chứng minh sử dụng đất ổn định, quy định chi tiết tại Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai​ như sau:

Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định
1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).
2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:
a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;
b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;
c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;
d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;
đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;
e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;
g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;
h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;
i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;
k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.
3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.
4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất.
Như vậy, khi có một trong các giấy tờ nêu trên, bạn sẽ tiến hàng thủ tục cấp đỏ như sau:
Hồ sơ bao gồm:

- Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

- Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 (nếu có);

- Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật (nếu có).

Cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện các công việc sau: Kiểm tra hồ sơ và trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Chuyển hồ sơ đã giải quyết cho Văn phòng đăng ký đất đai.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Con riêng có được quyền thừa kế đất của cha dượng không?

Thưa luật sư! Tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: Bố tôi mất năm 1998 có để lại một mảnh đất trên đó xây dựng căn nhà cấp 4 ba gian ở quê. Vợ cả của bố tôi (có giấy đăng ký kết hôn) mất năm 2000. Giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất trên hiện đứng tên vợ cả của bố tôi, mẹ đẻ tôi lấy bố tôi chỉ có sự đồng ý của hai bên họ hàng gia đình, về mặt pháp luật không có giấy đăng ký kết hôn với bố tôi. Sau khi lấy bố tôi năm 1989 về ở chung một nhà tại mảnh đất trên.

Bố tôi và vợ cả sinh được ba chị gái hiện tại đã đi lấy chồng ở địa phương khác và không sinh sống tại mảnh đất trên, bố tôi và mẹ đẻ tôi sinh được tôi là con trai và một em gái, hiện tại em gái tôi cũng đã đi lấy chồng tại địa phương khác và không sinh sống tại mảnh đất trên. Mảnh đất hiện giờ do mẹ đẻ tôi và tôi sinh sống tại đó, hiện giờ tôi muốn làm thủ tục đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên có được không? Và nếu được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó thì thủ tục pháp lý gồm những gì? Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho mảnh đất trên là cấp cho hộ gia đình. Bố tôi và vợ cả chết đều không để lại di chúc gì. Hiện giờ đã hết thời hiệu thừa kế theo quy định là 10 năm, tôi và ba chị và em gái không có một sự thỏa thuận nào cho tới giờ.

Vậy ba chị tôi và em tôi có được chia tài sản không và nếu chia thì mẹ đẻ tôi có được chia không? Hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ cả của bố tôi và do huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ cấp, hiện giờ đã là thành phố Hà Nội thì thủ tục chuyển giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu được gồm những gì? Bố tôi và vợ cả chết đều không để lại di chúc gì.

Rất mong các luật sư tư vấn giúp, tôi xin chân thành cảm ơn!

Con riêng có được quyền thừa kế quyền sử dụng đất của cha dượng không?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì sau khi bố bạn mất (năm 1998) đã để lại mảnh đất trên cho người vợ cả. Và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở vẫn đứng tên người vợ này. Đến năm 2000 người vợ cả kia mất, nếu thuộc trường hợp sau đây bạn sẽ có quyền thừa kế đối với mảnh đất và nhà ở trên đất này:

Nếu gia đình có yêu cầu chia thừa kế vào năm 2017 thì việc hưởng thừa kế sẽ được xác định theo Điều 651 Bộ luật dân sự 2015, nó có quy định về nguyên tắc chia thừa kế theo pháp luật như sau:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”

Theo như Điều này thì những người thuộc hàng thừa kế đầu tiên của người vợ này sẽ là cha mẹ đẻ, 3 người chị gái và con nuôi. Như vậy, di sản thừa kế sẽ được chia đều cho những người thừa kế nêu trên. Bạn và em gái bạn chỉ có quyền được hưởng thừa kế khi có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con:

"Điều 654. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.”

Do vậy, nếu giữa người vợ cả và 2 anh em bạn có phát sinh quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng thì bạn và em gái sẽ có quyền được hưởng thừa kế giá trị mảnh đất tương đương với 3 người chị gái.

Về thắc mắc “Hiện giờ đã hết thời hiệu thừa kế theo quy định là 10 năm…”. Hiện giờ Bộ luật dân sự 2015 đã có hiệu lực, pháp luật đã có sự quy định mới về thời hiệu phân chia di sản là bất động sản:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”

Bất động sản gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật. (Điều 107, BLDS 2015). Cho nên thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản là mảnh đất và nhà gắn liền với đất sẽ là 30 năm, bây giờ vẫn đang trong thời gian để những người thừa kế yêu cầu phân chia di sản.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật