1. Khung hình phạt đối với hành vi lừa đảo ?

Luật Minh Khuê giải đáp các câu hỏi của khách hàng liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ Luật Hình sự 1999 Sửa đổi bổ sung năm 2009, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Theo đó, hành vi này được hiểu là việc dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Về mặt khách quan:

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Về mặt khách thể:
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Về mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Tuy nhiên cần lưu ý:

Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Khung hình phạt:

Theo quy định tại Điều 139 BLHS:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa Luật sư! Hiện tại cháu đang ở thành phố Huế,tỉnh Thừa Thiên Huế. Cháu bị một người phụ nữ ở huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế lừa đảo chiếm đoạt 7 triệu đồng.Vậy Luật sư cho cháu hỏi cháu nên gởi đơn tố cáo lên cơ quan nào và ở đâu ạ. Cháu cảm ơn.

Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì:

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Do vậy, bạn có thể tố giác hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản của người kia với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan, tổ chức khác

Em có nhận mua đất ở Cần Thơ. Bên bán bằng lời hứa và thể hiện rõ trên hợp đồng bán đất vườn và sẽ chuyển mục đích sử dụng đất cho em sang thổ cư với số tiền 100 triệu và yêu cầu em đặt cọc 50 triệu nhưng em chỉ đặt 20 triệu. Đến nay, họ bảo họ không thể chuyển mục đích sử dụng đất sang đất thổ cư được nên em đề nghị họ trả cọc và không mua đất nữa. Bên bán không trả, nói không mua thi mất cọc. Vậy em có thể thưa bên bán tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

Trước hết đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và hiện nay đất đai không phải là đối tượng mua bán. Do đó, giao dịch mà hai bên thực hiện là giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Để xác định hành vi của bên bán có phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không bạn cần căn cứ vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm này đã nêu ở trên. Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối (ở đây là việc cam kết chuyển mục đích sử dụng đất) mà không có hành vi chiếm đoạt (ở đây là việc vi phạm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) thì chỉ được xem là tranh chấp hợp đồng dân sự mà không thuộc trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, bạn chỉ có thể khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự với người này thôi.

xin chào luật sư! cháu ở gia lai có gặp vấn đề như sau. Vào tháng 5 năm 2015 chị họ cháu lấy lí do vay hộ cho chủ̉ thầu xây dựng (người xa lạ với nhà cháu) nơi chị ấy làm việc và lấy của mẹ cháu 10 triệu đồng, hẹn 5 tháng trả. Nhưng đến hiện tại đã hơn một năm 6 tháng vẫn cố chấp không có ý định trả mặc dù mẹ cháu đã nhiều lần nhắc nhở . Sau nhiều lần hẹn nay hẹn mai rồi tránh mặt,bây giờ Chị họ còn lật lọng nói không có lấy tiền của mẹ cháu, bảo mẹ cháu không có chứng cứ, không ai thấy mẹ cháu đưa tiền cho chị âý. Lúc trước vì nghĩ người trong nhà nên mẹ cháu đưa tiền mà không có giấy tờ gì cả. Vậy xin hỏi luật sư mẹ cháu có thể kiện chị ấy tội lừa đảo được không ạ? nhiều lần mẹ cháu đến nhắc trả tiền, chị âý còn xấc xược dùng lời lẽ không hay, vậy có được coi là xúc phạm danh dự và nhân phẩm không ạ? Nếu có thể khởi kiện xin luật sư hướng dẫn làm hồ sơ ạ! Cháu xin cảm ơn!

Vì chị họ của bạn có được số tiền 10 triệu đồng từ mẹ bạn thông qua một hợp đồng vay tài sản sau đó thì chiếm đoạt luôn số tiền đó, do đó tội danh mà người này phạm phải không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà là " tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại Điều 140 BLHS. Vì vậy, mẹ bạn nên làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an có thẩm quyền để được giải quyết. Đối với trường hợp này, ngoài nghĩa vụ phải trả nợ, chị bạn còn phải chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật hình sự. Việc chị bạn có dùng những lời lẽ xấc xược, không hay với mẹ bạn có thể coi là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, vì vậy, đối với hành vi này, chị bạn có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí, nếu xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự nhân phẩm của mẹ bạn thì còn có thể phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

>> Bạn tham khảo: Mẫu đơn yêu cầu khởi tố hình sự ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao nhiêu thì bị phạt tù ?

Luật sư cho em hỏi. Ba em có 2 vợ, vợ trước thì sinh được 2 người con 1 gái 1 trai nội em có cho ba và mẹ em một mảnh đất để xây nhà nhưng không có làm sổ đỏ. Mà không được bao lâu mẹ em mất và ba em lấy hêm vợ 2 và củng về ở trên mảnh đất mà nội em cho để ở và ở vế nhau được một thời gian ba em xây nhà trên mảnh đất đấy để cùng ở vế vợ 2 và 2 chị em của em. Và bà vợ 2 này không đi làm để kiếm hêm thu nhập cho gia đình và chỉ ở nhà lo việt nhà hoi tính bà vợ 2 này tham lam và đọc ác lấm.
Cho tới khi em và chị em lớn và đi làm ăn do không ở chung được vế bà vợ 2 đọc ác này nên 2 chị em tìm nhà trọ ở và sinh sống. Và giờ bà vợ 2 này đang có ý đồ chiếm đoạt hết đất đai và tài sản của ba em dành riêng cho 2 mẹ con bả không cho chị em của em về ở. Trông trường hộp này em muốn hoi luật sư miếng đất mà nội em cho ba em thì bà nội em có lấy lại được không tại vì đất không có sổ đỏ mà chỉ là một hộ hoi mà đất nội em cho riêng ba em và mẹ em chứ không phải bà sao này với ba em làm ra, và lở mà có chia tài sản thì chia như thế nào?
Mong luật sư tư vấn và trả lời cho em sớm nhất có thể cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Cần xác định được khi bà bạn cho đất có làm hợp đồng tặng cho có công chứng (hoặc chứng thực) hay không?

Thứ nhất, nếu việc tặng cho này là hợp pháp và bà bạn cho bố mẹ bạn thì đây là tài sản chung của vợ chồng. Bố bạn chỉ được sở hữu 1 phần mảnh đất, phần còn lại thuộc sở hữu của mẹ bạn, mẹ bạn đã mất thì phần đất này là di sản thừa kế. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm chồng, con của người có di sản được hưởng phần di sản đó. Tức là chị em bạn có quyền sở hữu 1 phần mảnh đất đó.

Mảnh đất được hình thành trong thời kì hôn nhân với bà vợ trước, thì đây là tài sản chung của chồng và bà vợ trước. Khi bố bạn lấy vợ hai, khối tài sản này đã được hình thành một cách hợp pháp thì đây không phải tài sản chung của bố bạn và bà vợ hai. Vì thế bà vợ hai không có quyền sở hữu đối với tài sản này.

Trong trường hợp của bạn, bạn có thể khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế mà mẹ bạn để lại.

Thứ hai, nếu việc tặng cho chỉ nói miệng, không lập thành văn bản, không được công chứng, chứng thực thì giao dịch tặng cho này là vô hiệu. Bà bạn vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của mảnh đất và có quyền sử dụng, định đoạt đối với mảnh đất này.

Người thân của tôi có nhờ một người bạn đứng tên mua trả góp sản phẩm điện thoại. Trong quá trình thanh toán trả góp người thân của tôi có trục trặc về tài chính nên có thanh toán trễ mất hơn 1 tháng. Bên Homecredit có gọi cho chủ hợp đồng là người đã đứng tên giúp người thân của tôi đòi nợ. Người ấy tức giận dọa dẫm kiện người thân của tôi là lợi dụng tín nhiệm để lừa đảo. Người ấy có người thân làm luật sư nên dọa dẫm người thân tôi đủ các kiểu. Dọa kiện cho người thân tôi mất việc và mất tương lại. Kính mong văn phòng luật hồi đáp giúp ạ. Chân thành cảm ơn.

Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi 2009 quy định:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Do bạn không cung cấp số tiền cụ thể nên chúng tôi không tư vấn theo hướng xác định giá trị tài sản chiếm đoạt.

Theo căn cứ trên, người thân của bạn nếu chỉ chậm trả nợ nhưng vẫn có ý thức trả nợ thì không có cơ sở để khởi kiện về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Chào luật sư.tôi muốn hỏi lựa sự một vấn đề là tôi có vay của công ty tài chính home credit với số tiền là 20.000.000. mỗi tháng phải thanh toán là 2.003.000 trong vòng 21 tháng như vậy lãi suất của cty này có phải là cho vay nặng lại không và tôi có thể kiện công ty là cho vay nặng lãi không? với lại tôi thấy lại quá cao cho nên tôi vay có trả được 2 tháng đầu rồi này công việc không ổn định nên không có khả năng trả nên đã chậm hơn 1 tháng rồi vậy tôi có bị cty kiến là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? monng luật sư trả lời giúp vấn đề này ạ

Theo quy định tại Điều 140 BLHS nêu trên, bạn chậm trả nợ và vẫn có ý thức trả nợ thì không thuộc trường hợp lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc chậm trả bạn sẽ phải chịu lãi phạt chậm thanh toán theo thỏa thuận của hai bên.

Khoản 1, Điều 476quy định: " Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng".

Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì nếu lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là "cho vay nặng lãi". Nếu lãi suất cho vay không vượt quá 159% lãi suất cơ bản thì không vi phạm quy định của pháp luật.

Gia đình tôi ngày xưa có mua một mảnh đất và có giay tờ mua bán đầy đủ,và lúc đó xung quanh toàn là rừng rú nên gia đình tôi có khai thác thêm...và gia đình tôi cặp nhà có trồng Dừa và vừa nước và cũng đã sống ở đó 30 mấy năm cũng đã cắt được mấy xát nhà trên mảnh đất này . Đến lúc này nhà nước đã chấp nhận cấp đất cho toàn bộ xóm tôi ...và bao cả gia đình tôi.như chủ đất kế bên lại nói đất của gia đình tôi là của họ như trong khi đất này từ xưa tới giờ đều có ganh gốc đây đủ và có người làm chứng đầy đủ thế là việc tranh chấp xây ra va da thưa kiện đến áp như khi sử ap da xử nói gia đình tôi chỉ được sở hữu mảnh đất mua mà thôi còn toàn bộ là của bên tranh chấp đất với gia đình tôi và bắt mẹ cha tôi kí tên như gia đình tôi ko kí và để thua lên tới xa. Và bạn có thể cho toi biet y kiến ko ak. Và sao khi xét sử gia đình tôi có thể thưa họ về việc âm muu chiếm đoạt tài sản ko ak.

Trường hợp này của bạn cần chứng minh được phần diện tích có thêm ngoài diện tích đất mua bán trước đây là do khai hoang mà có và gia đình bạn đã sử dụng ổn định, lâu dài mà không có tranh chấp. Lúc này bạn có quyền nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất tăng thêm.

Chỉ khi quyền sử dụng đất nhà bạn thuộc sở hữu hợp pháp thì mới có cơ sở để khởi kiện người khác lấn chiếm đất.

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê Tên tôi là HM, thường trú tại Hà Nội. Cách đây không lâu tôi đã có 1 câu hỏi gửi Quý Công ty và đã được Quý Công ty giải đáp kịp thời, tôi rất chân thành cảm ơn Quý Công ty. Nay có 1 câu hỏi khác xin Quý Công ty giúp đỡ. Công ty chúng tôi kinh doanh ngành hàng thực phẩm. Trong nhiều năm qua, Công ty phân phối qua hệ thống đại lý các cấp. Tuy nhiên, hiện tại chúng tôi ngừng cung cấp hàng hóa đó và các giao dịch với đại lý cũng chấm dứt. Hiện tại có 1 đại lý đang nợ tiền hàng của chúng tôi (chúng tôi có đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh). Qua nhiều buổi làm việc, bên đại lý lấy lý do không còn lưu lại các dữ liệu nữa, vì vậy rất khó để thực hiện công tác đối chiếu công nợ. Thái độ của Đại lý là không thiện chí chi trả nợ. Và thời gian gần đây chúng tôi không thể liên lạc với đại lý nữa. Tôi xin hỏi, trong trường hợp này để bảo đảm quyền lợi cho Công ty thì chúng tôi phải làm gì: Khởi kiện ra Tòa án hay Tố cáo với cơ quan điều tra về việc chiếm đoạt tài sản? Rất mong nhận được sự hồi đáp và giúp đỡ của Quý Công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng cảm ơn.

Trong trường hợp này nếu có căn cứ chứng minh bên đại lý không có ý định trả nợ chưa thanh toán thì công ty bạn có thể khởi kiện đại lý về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 BLHS. Hoặc cũng có thể tố cáo tới cơ quan công an nơi đặt điểm của đại lý đó.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Tư vấn về việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thư luật sư: Ngày 10.1.2012 chị L.T Hương có gặp bà H.L Hoa để thỏa thuận thuê của bà chiếc ô tô thương hiệu Audi (trị giá 2 tỷ đồng) để di du lịch thời hạn 1 tháng. Bà Hoa ngần ngại việc chị Hương là bạn nhưng chiếc ô tô lại là tài sản có giá trị lớn của bà. Hiểu được thái độ của bà Hoa, chị Hương thỏa thuận rằng, chị sẽ để lại chiếc nhẫn kim cương chị đang có (giá trị là gần 2,5 tỷ đồng) cho bà Hoa với ý định đặt cược để làm tin, và mong muốn rằng khi chị đi du lịch về chị sẽ trả tiền thuê chiếc xe, đồng thời nhận lại chiếc nhẫn đó từ bà Hoa.
Sau khi thỏa thuận hai bên có làm hợp đồng thuê xe và kèm theo biện pháp ký cược chiếc nhẫn, bà Hoa có giao xe cho chị Hương và chị Hương cũng đã giao lại chiếc nhẫn kim cương của mình cho bà Hoa. Ngày 10.2.2012, sau chuyến du lịch của gia đình, chị Hương có mang xe đến trả cho bà Hoa thì bà Hoa không có nhà. Chị lại đánh xe về sau khi liên lạc và nhận được sự đồng ý của bà Hoa kéo dài thêm hai ngày nữa do bà có việc gia đình chưa thể về được. Ngày 12.2.2012, chị Hương lại tiếp tục liên lạc với bà Hoa với mục đích hẹn gặp để trả xe, tiền thuê xe cho bà nhưng không liên lạc được. Chị Hương có đến nhà nhưng cũng không gặp được.
Nhiều lần sau đó không gặp được, chị Hương phát hiện ra là bà Hoa không muốn gặp cũng như không muốn nhận lại chiếc xe của mình mà thay vào đó bà muốn giữ lại chiếc nhẫn kim cương của chị. Ngày 12.5.2012, bất ngờ chị Hương gặp lại bà Hoa tại một cửa hàng. Sau khi trao đổi qua lại, chị Hương mới biết được bà Hoa đã bán chiếc nhẫn kim cương của chị với giá 2,3 tỷ đồng cho người khác và ngỏ ý muốn sang tên chiếc xe Audi cho mình nhưng không hoàn lại giá trị chênh lệch.
Về phần mình, chị Hương không chấp nhận, phần vì đó là kỷ niệm của chồng chị, phần vì giá trị của chiếc nhẫn lại lớn hơn chiếc ô tô của bà Hoa nên chị yêu cầu được trả lại xe và nhận lại chiếc nhẫn đó. Giải quyết như thế nào ạ ?

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để giải quyết trường hợp này, có thể đi theo hai hướng, theo pháp luật hình sự hoặc theo pháp luật dân sự

Thứ nhất, về mặt pháp luật hinh sự

Theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng

nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản"

Cụ thể theo điểm a, Khoản 1 Điều 140 thì chiếu theo trường hợp này, ta có thể thấy chị Hoa đã nhận tài sản của chị Hương là một chiếc nhẫn kim cương có trị giá gần 2,5

tỷ đồng từ một hợp đồng thuê xe, sau đó dùng thủ đoạn gian dối đó chính là việc lẩn tránh chị Hương và không để chị Hương có thể liên lạc được với mình và cũng đã có hành vi bỏ trốn khỏi nơi đã từng giao dịch hợp đồng với chị Hoa để chiếm đoạt chiếc nhẫn kim cương đó

Như vậy, chị Hoa sẽ bị truy cứu về tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chị Hương có thể đến cơ quan có thẩm quyền để tố cáo hành vi này của chị Hoa và được bồi thường về phần tài sản dân sự của mình

Thứ hai, về mặt pháp luật dân sự

Như theo tình huống của bạn, chị Hoa và chị Hương đã thống nhất và đạt được sự thỏa thuận trong hợp đồng và cụ thể đây là hợp đồng dân sự

Khi hai bên của mối quan hệ hợp đồng này ràng buộc với nhau bằng những điều khoản trong hợp đồng thì cũng đồng thời phát sinh nghĩa vụ dân sự. Cụ thể những vấn đề pháp lý này được quy định tại hai điều Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

"Điều 280. Nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

Điều 281. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các căn cứ sau đây:

1. Hợp đồng dân sự;

2. Hành vi pháp lý đơn phương;

3. Thực hiện công việc không có uỷ quyền;

4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật;

5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;

6. Những căn cứ khác do pháp luật quy định"

Như vậy, nghĩa vụ dân sự cụ thể của chị Hoa và chị Hương trong trường hợp này là: chị Hoa có nghĩa vụ phải chuyển giao chiếc nhẫn kim cương cho chị Hương; chị

Hương có nghĩa vụ chuyển giao chiếc xe và trả tiền thuê xe chô chị Hoa. Tuy nhiên, trong tình huống này, hành vi của chị Hương đã phù hợp với nghĩa vụ dân sự của chị là chị trả lại xe và trả tiền cho chị Hoa, đúng thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự. Ngược lại, chị Hoa lại không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự của mình, chị Hoa đã không trả lại chiếc nhẫn kim cương cho chị Hương mà đã bán chiếc nhẫn đó.

Khi chị Hoa không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự của mình, thời điểm này phát sinh trách nhiệm dân sự của chị Hoa do vi phạm nghĩa vụ dân sự. Chi tiết vấn đề này được quy định tại Điều 302 BLDS năm 2005 với nội dung:

"Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền"

Điều 303. Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật

1. Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.

2. Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại thì phi thanh toán giá trị của vật.

3. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại cho bên có quyền thì ngoài việc thanh toán giá trị của vật còn phải bồi thường thiệt hại cho bên có quyền.

Vậy để giải quyết trường hợp này, chị Hương có thể khởi kiện ra tòa án để buộc chị Hoa phải thực hiện trách nhiệm dân sự của mình theo đúng quy định của pháp luật

Kết luận: xét về mặt pháp luật hình sự hay pháp luật dân sự thì chị Hoa vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật bởi những hành vi của mình và chị Hương sẽ nhận được bồi thường do hành vi này của chị Hoa gây ra.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Tố cáo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa Luật sư, em là sinh viên, đang trong tình trạng khó khăn nên đã ngỏ hỏi chị bên cạnh phòng tìm giúp cho mình công việc nào làm thêm buổi tối. Xong chị ấy giới thiệu là có quen bạn bên ngân hàng Đông Á và có thể xin được.
Em tin nên làm hồ sơ đưa chị ấy, thì một thời gian sau chị nói là phải đóng tiền giữ vị trí (hay nghĩa là giữ chân chỗ đó), tưởng đã xong rùi bà lại kêu bên đó phải yêu cầu mấy khoản tiền mua đồ giày 1 triệu rưỡi và tiền học đào tạo khác, rùi các khoản em đã mượn bạn đưa nhưng không có ai chứng kiến! Sau đó hồi lâu vẫn ko thấy bà gọi đi mà lại có thông tin phải đóng thêm mười mấy triệu nên em làm liều cắm xe đưa tiền cho bà ấy ... nhưng lần này em có kêu bà ấy là phải viết cam kết (trong cam kết có ghi chứng minh nhân dân, tên và ghi đã nhận của em số tiền đó kí tên nhưng không có người chứng kiến)... Giờ phát hiện có khả năng lừa đảo thì em phải làm sao để đòi lại quyền lợi của mình trong khi chắc chỉ con mấy cái tin nhắn qua zalo tin nhắn nói chuyện về chuyện đó... Như vậy có đủ điều kiện kêu công an đòi lại quyền lợi không ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn đã nhờ một người khác làm giúp hồ sơ tại ngân hàng đông á, để có việc làm bạn đã phải dùng tiền và làm các thủ tục khác theo yêu cầu của người đó. Hiện tại bạn phát hiện có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác.


Chủ thể là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Nếu thỏa mãn các cấu thành nêu trên thì người mà bạn đã nhờ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 BLHS.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu phát hiện có dấu hiệu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định nêu trên thì bạn có quyền làm đơn tố cáo đến cơ quan công an. Điều đó đồng nghĩa với việc bạn phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện của mình là có căn cứ. Những tin nhắn trên zalo cũng là những căn cứ mà bạn có thể dùng để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Nếu có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án để điều tra.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Xin tư vấn về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Thưa luật sư! Tôi hiện đang là bộ đội công tác tại Hà Nội. Cách đây khoảng 2 tháng tôi bị lừa lấy mất điện thoại cụ thể như sau: Tôi quen một cô bạn tên là Trâm, quê ở Nghệ An. cô ấy có lên chỗ tôi công tác chơi, khi gặp nhau ở nhà nghỉ gần đó cô ấy có mượn tôi cái điện thoại để gọi điện (samsung s5 thời điểm đó là 15 triệu). Sau đó cô ấy đi mất luôn và không trả lại cho tôi.
Khi đó không có ai làm chứng nhưng tôi vẫn còn toàn bộ tin nhắn có liên quan tới sự việc nêu trên thể hiện rõ việc cô ấy cố ý lừa tôi để chiếm đoạt chiếc điện thoại đó. Tôi biết địa chỉ gia đình cô ấy. Tôi xin hỏi giờ muốn kiện cô ấy và buộc hoàn trả chiếc điện thoại đó cho tôi thì tôi cần phải làm những gì và phải làm như thế nào? (Tôi không biết số cmt nhân dân của cô ta). Tôi có bao nhiêu hi vọng tìm lại được tài sản của mình? vì theo tôi biết những vụ án như thế này công an cũng không nhiệt tình làm cho lắm. Họ còn đùn đẩy việc viết đơn gửi về nơi xảy ra vụ việc với gửi đơn về quê nơi cô ta sống.( cô ta hiện chưa có gia đình).
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: ST

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Nội dung phân tích:

Pháp luật luôn bảo vệ quyền sở hữu của mỗi cá nhân, tổ chức. Chính vì vậy, hành vi của chị Trâm nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi vi phạm pháp luật. Cụ thể:

Căn cứ vào Điều 139, Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009)Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Và Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Điểm khác biệt cơ bản giữa 2 tội phạm này đó chính là "Ý định chiếm đoạt tài sản". Theo đó, nếu Trâm đã có ý định chiếm đoạt từ ban đầu trước khi mượn được điện thoại của A thì Trâm rất có thể đã Phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Còn nếu cô ấy chỉ này sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Anh kể từ thời điểm mượn điện thoai. Thì cô ấy phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Như vậy, với hành vi của Lâm, chị ấy có thể phạm vào một trong hai tội phạm nêu trên. Đều có hành vi cấu thành tội phạm.

Trong trường hợp này, A có thể làm đơn Tố cáo hành vi của Trâm lên công an. Họ phải có trách nhiệm thụ lý đơn. Tiến hành khởi tố hình sự vì đã có dấu hiệu của tội phạm.

Theo đó, khi giải quyết theo thủ tục tố tụng Anh sẽ được hoàn trả lại tài sản hoặc bồi thường khoản thiện hại về tài sản (nếu tài sản không còn).

Trân Trọng!

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?