1. Quy định về xử lý hành vi vu khống nhằm hạ thấp danh dự người khác ?

Thưa luật sư, xin cho tôi hỏi: tôi bị tố cáo về bao che hành vi phạm tội của người khác, và bản dự thảo kết luận của cơ quan tôi là: không đủ chứng cứ xác thực chứng minh tôi có hành vi bao che đó.
Vậy tôi phải làm thế nào để lấy lại uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình và tôi có thể kiện người đã tố cáo tôi về hành vi vu khống hay không; xin giúp tôi làm mẫu đơn đó ?
Xin cám ơn!

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 122 Bộ Luật Hình sự 1999 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017):

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, để có thể tố cáo hành vi vu không của người kia, bạn phải có cơ sở để cho rằng người kia biết rõ những điều họ bịa đặt, tố cáo bạn nhằm xúc phạm danh dự,nhân phẩm, quyền và lợi ích của bạn và cố tình để hậu quả này xảy ra thì bạn có thể tố cáo họ. Còn ngoài ra, nếu người đã tố cáo bạn bị nhầm lẫn thông tin, không có hành vi cố ý tố cáo nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay xâm phạm quyền, lợi ích của bạn thì người này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em và đứa em gái có nói chuyện vs nhau dùng từ như cave,chơi trai...để nói về ng khác,và sau đó đứa e gái e có đăng lên mạng xã hội faceboo nhằm mục đích chút giận ng kia vì ng kia có lần nói xúc phạm đến em gái em. Như vậy chúng em có bị kêt tội lăng mạ,vu khống ng bị hai không ạ?và ai người chịu trach nhiệm chính,em hay em gái ạ ? Xin luật sư giải đáp cho em, em cảm ơn ạ!

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì:

"Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì hành vi của bạn và em gái bạn phải bị coi là xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người khác. Người bị hại phải là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự nhưng thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng là một vấn đề khá phức tạp. Bởi vì cùng bị xâm phạm như nhau nhưng có người bị thấy nhục hoặc rất nhục nhưng có người lại thấy bình thường. Về phía người phạm tội cũng có nhận thức tương tự, họ cho rằng với hành vi như thế thì người bị làm nhục sẽ nhục hoặc rất nhục nhưng người bị hại lại thấy chưa bị nhục. Nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hay người bị hại thì cũng chưa thể xác định một cách chính xác mà phải kết hợp với các yếu tố như trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội, quá trình hoạt động của bản thân người bị hại, phong tục tập quán, truyền thống gia đình... Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của người bị hại bị xâm phạm tới mức nào. Sự đánh giá của xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa rất lớn để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

Hơn nữa, chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này phải là người đã từ đủ 16 tuổi. Vì vậy, nếu người bị hại có làm đơn tố giác tới cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan này còn phải xem xét hành vi bạn và em gái bạn thực hiện dựa trên nhiều yếu tố để xét trường hợp này có dấu hiệu của tội phạm không, hay chỉ là hành vi thiếu văn hoá... để giải quyết.

Thưa luật sư, xin hỏi: Một người bạn đổ cho tôi lấy trộm hai bộ bàn ghế học sinh nhà cô ấy. Tôi phải làm gì khi bị oan? Tôi có thể kiện cô ấy tội vu khống được không ?

Để khởi kiện người khác về hành vi vu khống thì phải có căn cứ người này cố tình thực hiện việc bịa đặt, loan truyền những điều mà họ biết rõ là ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích của bạn. Còn nếu trên thực tế họ có bị mất tài sản, và việc nói bạn có hành vi trên chỉ là do nghi ngờ, chứ không phải nhằm xúc phạm danh dự nhân phẩm của bạn thì không có cơ sở cho việc vu khống họ về hành vi này.

Còn trong trường hợp bạn đã giải thích mà người này không có cơ sở mà vẫn tiếp tục việc bịa đặt, loan truyền những điều nhằm xúc phạm tới danh dự của bạn, thì ban có quyền tố giác tội phạm này với cơ quan công an địa phương.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có câu hỏi muốn luật sư giải thích cho tôi ạ tôi có bà chị dâu do hai vợ chồng không thể chung sống với nhau được vợ chồng họ cãi nhau và lôi tôi vào chuyện đó chị dâu tôi vu khống cho tôi là có trai đưa đi đón về và ăn hiếp con trai của chị ta trong lời nói còn có sự xúc phạm đến bố mẹ tôi điều đó tôi có thể kiên chị ta về tội vu khống được không ạ và tôi có người làm bằng chứng cho lời nói của tôi ?

Theo quy định của pháp luật về tội vu khống, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Lưu ý đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

Như vậy, để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tố cáo thì người thực hiện hành vi phải có những dấu hiệu của tội phạm như trên. Còn nếu chưa đủ điều kiện cấu thành tội vu khống thì khi bạn trình báo với cơ quan có thẩm quyền, người này vẫn có thể bị xử phạt hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

Thưa luật sư, Cháu muốn hỏi về việc vu khống, bôi nhọ danh dự qua mạng xã hội. Và cần những gì để buộc tội được kẻ tung tin. Có người đăng ảnh cháu lên mạng xã hội Facebook và bịa đặt rằng cháu cặp bồ, cần tìm địa chỉ. Cháu muốn báo công an để lấy lại danh dự, nhưng hiện tại kẻ đó đã xoá bài và khoá Facebook. Cháu còn giữ ảnh chụp bài đăng đó và biết chủ nhân Facebook đó thì có đủ chứng cớ khai báo công an không ạ? Cháu cảm ơn. Đã gửi từ iPhone của tôi

Theo phần mô tả của bạn, có thể nhận thấy, người thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội làm nhục người khác. Theo Điều 121 BLHS, làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của con người.

Người phạm tội phải là người có hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, cạo đầu, cắt tóc, lột quần áo giữa đám đông… Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình. Tất cả hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Nếu hành vi làm nhục người khác lại cấu thành một tội độc lập thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện.

Trong trường hợp của bạn, bạn có thể trình báo với cơ quan công an về hành vi của người này, còn về điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống thì phía cơ quan tiếp nhận sẽ dựa trên các căn cứ trên thực tế để giải quyết cho bạn. Nếu không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác thì người thực hiện hành vi cũng vẫn có thể bị xử phạt hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm đối với bạn.

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê. Tôi là một Giáo viên. Thời gian qua tôi thường bị chị H ở Yên Thế, Bắc Giang ( chị ta nhận là người yêu của chồng tôi) nhắn tin chửi rủa, nhục mạ qua tin nhắn điện thoại, zalo, face book. Thậm chí chị ta còn đăng bài có nội dung xúc phạm, bôi nhọ, vu khống nghiêm trọng tôi trên face của trường, nơi tôi đang công tác. Tôi muốn làm đơn tố cáo chị H, công ty luật tư vấn cho tôi là tôi cần đến trình báo ở đâu? Hồ sơ thủ tục cần làm như thế nào? Xin chân thành cảm ơn công ty!

Theo như phần mô tả của bạn, có thể thấy chị H đã có dấu hiệu của tội phạm làm nhục người khác. Theo đó, chị H có hành vi bịa đặt, lan truyền những thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn. Vì vậy, bạn có quyền tố giác hành vi phạm tội của người này với cơ quan công an hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác. Tuy nhiên, để đủ điều kiện để cấu thành tội phạm này thì còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố trên thực tế để Toà án xem xét. Nếu chưa đủ điều kiện cấu thành tội phạm này, thì chị H có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối với tội phạm này.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi làm công việc quản lí phòng net, nhưng phòng nét có quy định, người vào chơi internetphải mua thẻ, nhưng có lúc người bán thẻkhông đi làm hoặc không có bán, nên tôi đã cho người ta chơi mà không cóthẻ và sau đó tôi thu tiền rồi đem đimua thẻ lại. Có một hôm người quản lý đi kiểm tra thì phát hiện người chơi không mua thẻ, sauđó lập biên bản có chữ kí của tôi, với nội dung tất cả có khoảng 30 người khôngmua thẻ, sau đó mấy ngày sau tôi bị đuổi việc. Hiệntại chủ quản lý vu khống tôi và kiện tôi chiếm đoạt tài sản, ngày nghĩ việc là1/6/2013 đến 1/9/2015 thì bị kiện Chohỏi: 1.hiện người ta vu khống tôi có đủ cơ sở pháp lý không 2.thời hiệu khởi kiện còn không 3.tôi có thể thưa họ tội vu khống không?

Trong trường hợp này, để bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì về tội chiếm đoạt tài sản thì bạn phải có một trong các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Còn qua phần mô tả của bạn, có thể thấy rõ, bạn không có hành vi lạm dụng sự tín nhiệm của họ nhằm chiếm đoạt tài sản. Mà để bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì trên thực tế phải có hành vi chiếm đoạt tài sản của bạn.

Về thời hiệu khởi kiện: Điều 23 Bộ luật hình sự quy định về thời hiệu khởi kiện đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 5 năm. Trong trường hợp của bạn, nếu cơ quan tiếp nhận tố cáo có cơ sở cho rằng bạn có hành vi chiếm đoạt thì thời hiệu khởi kiện là 5 năm. Vì vậy, hành vi xảy ra trên thực tế là năm 2013, và đến năm 2015 mới khởi kiện thì vẫn còn điều kiện.

Về điều kiện để tố cáo người này về hành vi vu khống: chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống khi người quản lý của bạn biết rõ trên thực tế bạn không có hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng lại bịa đặt, tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích của bạn. Còn trên thực tế, có thể hiểu họ đã nghi ngờ về việc bạn chiếm đoạt tài sản của họ và vì bảo vệ quyền lợi của mình, người này đã tố cáo bạn. Chính vì vậy, bạn có quyền tố cáo, nhưng chưa đủ cơ sở về việc họ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu không hay không?

Về trách nhiệm bồi thường: Qua những trình bày trên, nếu hành vi của bạn không đủ điều kiện cấu thành tội phạm hình sự, nhưng trên thực tế hành vi của bạn đã xâm phạm đến quyền lợi tài sản của người khác thì bạn có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho người này.

Thưa luật sư, xin hỏi: Trường hợp của em như sau ạ: e là người bị hại. Nhưng em k đi tố cáo hay làm đơn kiện ai (hay người gây tội). Nhưng e lại bị người thân của người gây tội viết đơn tố cáo e tội vu khống. Công an yêu cầu e lên viết bản tường trình. Và e đã khẳng định là e k vu khống ai. Không nghi ngờ ai và cũng không tố cáo ai. Nhưng họ vẫn không buông tha e. Vẫn bắt e lên làm việc. Vậy trong trường hợp này em nên sử như thế nào ạ. E xin chân thành cám ơn

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày tiếp nhận được tố giác thì cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm phải xác minh thông tin. Vì vậy, phía cơ quan điều tra gọi bạn lên để làm tưởng trình cũng như tìm kiếm các thông tin khác là nghĩa vụ của họ. Nếu đến cuối cùng, vẫn không có cơ sở để khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định sau:

"Điều 107. Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác"

Như vậy, nếu trên thực tế bạn không có hành vi vu khống người khác thì các cơ quan có thẩm quyền phải đình chỉ vụ án này, và không tiếp tục giải quyết cũng như triệu tập bạn để lấy lời khai.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tội xâm phạm đến sức khỏe danh sự và nhân phẩm bị phạt như thế nào ?

2. Tư vấn hình phạt đối với người giả danh người khác bôi nhọ danh dự ?

Thưa luật sư, Tôi có bị bạn trai cũ lấy ảnh của tôi, số điện thoại của tôi, tên facbook giống của tôi đi bêu rếu tôi là gái bao, rồi cave . Tôi không biết làm cách nào để điều tra và bắt anh ta hay kiện anh ta được ?
Người gửi: H.T

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn bị bạn trai dùng tên facebook giống bạn, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm. Đây là hành vi xâm phạm quyền nhân thân về hình ảnh, quyền bí mật đời tư của công dân. Như vậy, người này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 03/ 11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Cụ thể là:

Vi phạm Điểm đ Khoản 3 Điều 64: 3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

đ) Giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác;

Vi phạm Điểm g Khoản 3 Điều 66: 3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

Ngoài ra, nếu thỏa mãn cấu thành tội phạm thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác, theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi 2009:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Bạn có thể tố cáo hành vi trên đến cơ quan công an cấp xã, cơ quan công an cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp huyện, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện để được giải quyết vấn đề của mình, theo quy định tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003:

Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.0159.

>> Xem thêm:  Tội quấy rối gia đình người khác và xúc phạm người khác sẽ bị pháp luật xử lý thế nào ?

3. Làm sao để lấy lại danh dự sau khi bị vu khống?

Thưa luật sư, em bị bạn em vu khống nợ 378 triệu. Em có đứng ra đối chứng và gia đình bạn em đã nói rằng em không có nợ họ số tiền đó. Tuy nhiên dư luận nghĩ em mượn tiền và không chịu trả. Em muốn khởi kiện để đòi lại danh dự cho mình có được không?
Mong luật sư tư vấn giúp em! Em xin cảm ơn!
Người gửi: lunglinh

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến: 1900.0159

Trả lời:

Khoản 1 Điều 122 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Việc bạn của bạn vu khống bạn vay số tiền 378 triệu của gia đình người bạn đó mà không trả là hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. Vì vậy, bạn hoàn toàn có thể tố giác với các cơ quan có thẩm quyền như Cơ quan công an, Tòa án, Viện kiểm sát... để khởi tố người bạn đó về hành vi vu khống.

Ngoài ra, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong những quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân, vì vậy, theo quy định tại Điều 25 BLDS năm 2005, bạn có thể yêu cầu bạn của bạn xin lỗi, cải chính công khai hoặc yêu cầu đòi bồi thường...

Điều 25 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

"Điều 25. Bảo vệ quyền nhân thân

Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1. Tự mình cải chính;

2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Hàng xóm chửi bới, xúc phạm nhân phẩm của tôi xử lý ra sao ?

4. Tư vấn giải quyết việc bị xúc phạm danh dự nhiều lần ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Năm nay tôi 18 tuổi. Tôi có chuyện muốn nhờ luật sư giải đáp. Hôm trước mẹ tôi được một người mời đi đám cưới con của họ. Do không qua lại, lại ít tiếp xúc nên mẹ tôi đã không đi, một phần là gia đình người này không tốt lắm. Vì lý do ấy mà hôm nay mẹ tôi bị người phụ nữ này mắng chửi rất nặng trước đám đông.
Tôi xin hỏi tôi nên làm gì, và phải làm thế nào để lấy lại danh dự của mẹ tôi? Vì người này cũng đã xúc phạm mẹ tôi nhiều lần rồi ?
Tôi mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: P.L

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về hành vi làm nhục, gọi số: 1900.0159

Trả lời:

Mẹ của bạn bị người phụ nữ này mắng chửi rất nặng trước đám đông. Thậm chí người phụ nữ này còn xúc phạm mẹ bạn rất nhiều lần rồi. Trong trường hợp này dể bảo vệ mẹ của bạn, mẹ bạn có quyền khởi kiện người phụ nữ này.

Xúc phạm, chửi bới, nhằm làm tổn hại và tổn hại nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác là một trong những dấu hiệu cấu thành tội phạm: tội làm nhục người khác được quy định trong Bộ Luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, khi người phụ nữ đó xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm mẹ của bạn thì bạn có yêu cầu khởi tố của bạn tại cơ quan điều tra sau khi tố giác tội phạm tại cơ quan điều tra gần nhất (Công an phường, xã, thị trấn nơi bạn cư trú). Điều này được quy định rõ tại điểm m khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số: 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Tài Chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quy định về cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm trong đó bao gồm Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an.

Điều 5 Trách nhiệm tiếp nhận tố giác,tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm:

a) Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;

b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;

c) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương;

đ) Bộ đội Biên phòng;

e) Cơ quan Hải quan;

g) Cơ quan Kiểm lâm;

h) Lực lượng Cảnh sát biển;

i) Các cơ quan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

k) Các cơ quan khác của Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

l) Viện kiểm sát;

m) Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an;

n) Tòa án;

p) Cơ quan báo chí;

q) Các cơ quan, tổ chức khác.

Do vậy, bạn hoàn toàn có thể tố giác tội phạm đối với tội làm nhục người khác tại cơ quan điều tra khi có những dấu hiệu bị xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự để bảo vệ mẹ của bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn .Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.0159. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Nhắn tin, gọi điện xúc phạm người khác xử lý thế nào ?

5. Xử lý người xúc phạm danh dự của mình như thế nào ?

Xin luật sư tư vấn giúp:Hiện em đang bị một người mạo danh facebook của em để phá mọi người và dùng những lời thô tục xúc phạm đến gia đình em. Họ biết thông tin của em và chỗ gia đình em làm ăn, đã nhiều lần điện thoại đến chửi bới xúc phạm. Công việc của em cũng bị phá đến nỗi em phải nghỉ việc. Em cũng đã nhờ gia đình người đó can thiệp nhưng không được gì. Em không biết địa chỉ nhà hay chổ ở hiện tại của người đó. Người đó còn làm giả sim điện thoại của em để phá nữa.
Bây giờ em phải làm thế nào để bảo vệ bản thân và gia đình?
Em xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: T.P

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài, gọi:1900.0159

Trả lời:

Theo như bạn trình bày, bạn đang bị một người mạo danh facebook và số điện thoại để bôi nhọ bạn và xúc phạm đến những người xung quanh và còn có hành vi gọi điện đến nơi gia đình làm ăn để chửi bới xúc phạm. Hành vi trên là hành vi vi phạm pháp luật có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo các quy định sau đây:

Tại khoản 4 Điều 12 Luật Viễn thông số 41/2009/QH12 có quy định:

Điều 12. Các hành vi bị cấm trong hoạt động viễn thông

4. Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân…”

Cụ thể tại điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện có quy định:

Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;…”

Và theo quy định tại Điều 2 Nghị định này thì mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trong trường hợp này bằng ½ đối với tổ chức và thẩm quyền xử phạt đối với hành vi của cá nhân bằng ½ lần thẩm quyền sử phạt đối với hành vi của tổ chức:

Điều 2. Quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

1. Mức phạt tiền quy định từ Chương II đến Chương VI tại Nghị định này được áp dụng đối với tổ chức. Cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh được quy định tại Chương VII của Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của tổ chức; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt đối với hành vi của cá nhân bằng 1/2 lần thẩm quyền xử phạt đối với hành vi của tổ chức.”

Nếu hành vi của người phá rối bạn có tính chất nghiêm trọng thì có thể cấu thành tội phạm hình sự về tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống theo quy định tại Điều 121, 122 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10; Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số Điều của bộ luật hình sự như sau:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

“Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Để bảo vệ bản thân bạn có thể tố cáo hành vi trên với cơ quan có thẩm quyền và cung cấp các tài liệu chứng cứ kèm theo bởi theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo số 03/2011/QH13:

“Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”

Sau khi bạn tố cáo hành vi của người này cùng với các tài liệu chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xem, xét, giải quyết thì cơ quan có thẩm quyền sẽ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố cáo, xử lý người vi phạm, áp dụng các biện pháp ngăn chặn thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật. Vấn đề này được quy định tại Điều 5 Luật Tố cáo như sau:

Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền tiếp nhân, giải quyết tố cáo

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp người tố cáo, tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín, việc làm, bí mật cho người tố cáo; bảo đảm quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định xử lý của mình.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm bố trí trụ sở tiếp công dân hoặc địa điểm tiếp công dân để tiếp nhận tố cáo, khiếu nại, kiến nghị, phản ánh. Việc tổ chức tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà không tiếp nhận, không giải quyết theo đúng quy định của Luật này, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.”

Nếu thấy hành vi trên có dấu hiệu tội phạm theo Điều 121, 122 Bộ luật Hình sự đã nêu ở trên thì bạn có thể tố giác, kiến nghị khởi tố hoặc cung cấp tin báo về tội phạm đến các cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như sau:

Điều 5. Trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm:

a) Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;

b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;

c) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương;

đ) Bộ đội Biên phòng;

e) Cơ quan Hải quan;

g) Cơ quan Kiểm lâm;

h) Lực lượng Cảnh sát biển;

i) Các cơ quan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

k) Các cơ quan khác của Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

l) Viện kiểm sát;

m) Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an;

n) Tòa án;

p) Cơ quan báo chí;

q) Các cơ quan, tổ chức khác.

Kết luận: Để bảo vệ mình, bạn có thể tố cáo hành vi vi phạm pháp luật hoặc tố giác tội phạm của người này kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh theo các quy định được trích dẫn ở trên.

Trên đây là những giải đáp, tư vấn từ phía Công ty Luật Minh Khuê cho câu hỏi của Quý khách hàng. Nếu còn có điều gì thắc mắc, mời Quý khách hàng vui lòng gửi thư theo địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện trực tiếp đến tổng đài 1900.0159 để được giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Phát tán ảnh nóng và xúc phạm nhân phẩm người khác lên mạng sẽ bị xử lý như thế nào ?