Toà án ra bản án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản án của toà án áp dụng pháp luật cụ thể hoá đường lối, chính sách, quan điểm của Nhà nước đối với việc xử lí người có hành vi phạm tội.

Trong luật tố tụng hình sự, thẩm quyền xét xử của toà án theo nghĩa rộng bao gồm quyền xem xét và quyền giải quyết vụ án, ra bản án hoặc các quyết định khác như quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án... Theo đó, thẩm quyền của toà án bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức là quyền xem xét và phạm vi xem xét (giới hạn xét xử) của toà án. Thẩm quyền về nội dung là quyền hạn giải quyết, quyết định của toà án đối với những vấn đề được xem xét.

Phạm vi nghiên cứu của mục này là thẩm quyền xét xử của toà án theo quy định tại Chương XXI Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 dưới góc độ quyền xem xét vụ án. Theo đó, thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho toà án cấp sơ thẩm được xét xử vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đối tượng phạm tội; nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật.

- Căn cứ quy định thẩm quyền xét xử:

Việc quy định thẩm quyền xét xử của toà án cần phải dựa vào đường lối, chính sách của Đảng; nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm; tổ chức và hệ thống toà án; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; biên chế và cơ sở vật chất các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; tình hình tội phạm cũng như yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm...

1. Thẩm quyền xét xử theo sự việc

Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa toà án các cấp, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và tính phức tạp của tội phạm.

* Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực (khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Nếu thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực được quy định hợp lí, chặt chẽ thì phần lớn tội phạm xảy ra sẽ được xử lí kịp thời, phát huy được tác dụng giáo dục, răn đe và góp phần bảo vệ trật tự xã hội. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự ở nước ta cho thấy, thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện và của toà án quân sự khu vực ngày càng được mở rộng một cách hợp lí.

Theo quy định của BLTTHS năm 1988, toà án nhân dân cấp huyện có quyền xét xử những vụ án mà luật quy định hình phạt từ 05 năm tù trở xuống. Quy định này được Quốc hội thông qua trước khi ban hành BLHS. Vì vậy, khi BLHS được thi hành đã nảy sinh một số vướng mắc về thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện, quận và cấp tương đương.

>> Xem thêm:  Quy định mới nhất về bảo vệ người làm chứng trong vụ án hình sự ?

Để khắc phục những điểm bất họp lí nói trên, BLTTHS năm 1988 qua ba lần sửa đổi, bổ sung đã quy định chặt chẽ và họp lí hơn về vấn đề này. Theo quy định tại khoản 1 Điều 145 BLTTHS năm 1988 thì toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt từ 07 năm tù trở xuống, trừ những tội sau: các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội quy định ở các điều 95, 96, khoản 1 Điều 172 và các điều 222, 223, 263, 293, 294, 295, 296 BLHS năm 1985.

Mức hình phạt 7 năm tù trở xuống là mức hình phạt do luật định, mức này có thể quy định ở khung I hoặc khung II. Do đó, nếu BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt trên 07 năm tù thì toà án cấp huyện không có thẩm quyền xét xử dù hình phạt thực tế sẽ tuyên có thể từ 07 năm tù trở xuống. Quy định này xác định thẩm quyền của toà án cấp huyện một cách cụ thể, rõ ràng, phù hợp với quy định của BLHS.

Qua gần mười lăm , năm thực hiện quy định tại Điều 145 BLTTHS năm 1985 về thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện đã mang lại những kết quả nhất định song thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử ương thời gian này cho thấy số vụ án mà toà án nhân dân cấp tỉnh phải xét xử sơ thẩm ngày càng nhiều.

Do vậy, BLTTHS năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX kì họp thứ tư thông qua ngày 26/11/2003 một lần nữa lại mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của toà án cấp huyện.

Theo đó, khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2015 quy định: Toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây: các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225,226, 263, 293, 294, 295,296, 322 và 323 BLHS năm 1999.

Theo quy định trên, toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, trừ những tội quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2015.

Thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện ở Nghị quyết của Bộ chính trị số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết của Bộ chính trị số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đổi mới thủ tục xét xử, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà...; frên cơ sở Hiến pháp năm 2013 với ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định thẩm quyền xét xử của nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực như sau: toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau:

- Thứ nhất, các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

-Thứ hai, các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

- Thứ ba, các tội quy định tại các điều dưới đây của Bộ luật hình sự năm 2015:

>> Xem thêm:  Những trường hợp nào phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát giải quyết ?

+ Điều 123: Tội giết người;

+ Điều 125: Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;

+ Điều 126: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

+ Điều 227: Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên;

+ Điều 277: Tội vi phạm quy định về điều khiển tàu bay;

+ Điều 278: Tội cản trở giao thông đường không;

+ Điều 279: Tội đưa vào sử dụng giao thông đường không không bảo đảm an toàn;

+ Điều 280: Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không;

+ Điều 282: Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ;

+ Điều 283: Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

>> Xem thêm:  Quy định mới về kháng nghị theo thủ tục tái thẩm ? Xét xử theo thủ tục tái thẩm vụ án hình sự ?

+ Điều 284: Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy đỉnh về hàng hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

+ Điều 286: Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử;

+ Điều 287: Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử;

+ Điều 288: Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông;

+ Điều 337: Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước, tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật nhà nước;

+ Điều 368: Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội;

+ Điều 369: Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội;

+ Điêu 370: Tội ra bản án trái pháp luật;

+ Điều 371: Tội ra quyết định ttái pháp luật;

+ Điều 399: Tội đầu hàng địch;

>> Xem thêm:  Những quy định mới nhất về thi hành bản án, quyết định của tòa án hình sự ?

+ Điều 400: Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh.

- Thứ tư, các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

* Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh và toà án quân sự cấp quân khu (khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

So với những quy định trước đây, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của toà án nhân dân cấp tỉnh và toà án quân sự cấp quân khu quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cụ thể và rõ ràng hơn. Theo đó, toà án nhân dân cấp tỉnh và toà án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án sau:

- Thứ nhất, những vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực;

- Thứ hai, vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc có tài sản liên quan đến vụ án ở nước ngoài;

- Thứ ba, vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

Ngoài quy định trên, Điều 271 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định, khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội thuộc thẩm quyền xét xử của toà án cấp trên thì toà án cấp trên xét xừ toàn bộ vụ án.

2. Thẩm quyền theo lãnh thổ

Thẩm quyền theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra (Điều 269, 270 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

>> Xem thêm:  Khái niệm, nhiệm vụ, ý nghĩa của xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ?

Thông thường, vụ án hình sự được xét xử ở toà án nơi tội phạm thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì toà án có thẩm quyền xét xử là toà án nơi kết thúc việc điều ứa.

Việc Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thẩm quyền xét xử thuộc về toà án nơi tội phạm được thực hiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Xét về kinh tế tố tụng, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án sẽ tốn ít thời gian hơn trong việc tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ; thuận lợi không chỉ cho việc cơ quan có thẩm quyền triệu tập những người tham gia tố tụng mà còn thuận lợi cho cả những người được triệu tập trong việc đi lại. Điều này cũng có nghĩa là, việc vụ án được giải quyết tại nơi tội phạm được thực hiện sẽ đảm bảo sự có mặt của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài thì thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân được xác định như sau: Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì toà án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tuỳ trường hợp Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Toà án nhân dân thành pho Đà Nang xét xử. Neu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự thì do toà án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Toà án quân sự trung ương.

Đối với những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam thì toà án nhân dân ở Việt Nam nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở về đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam hoặc toà án nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng kí, có thẩm quyền xét xử.

Theo quy định của pháp luật quốc tế thì tàu bay, tàu biển mang quốc tịch quốc gia nào thì được coi là bộ phận lãnh thổ quốc gia mà tàu bay, tàu biển đó mang quốc tịch không kể đang hoạt động trong hay ngoài không phận, lãnh hải của quốc gia đó. Do vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của Việt Nam đã rời khỏi không phận hoặc lãnh hải Việt Nam vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của toà án Việt Nam. Tuy nhiên, tùy theo tội phạm đó là loại tội phạm nào mà xác định thẩm quyền xét xử thuộc toà án cấp tỉnh hay toà án cấp huyện.

Thẩm quyền theo lãnh thổ được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chặt chẽ và hợp lí, phù hợp với thực tiễn xét xử trong giai đoạn hiện nay. Các tranh chấp về thẩm quyền hoặc tình trạng các toà án đùn đẩy việc cho nhau được khắc phục về cơ bản.

3. Thẩm quyền xét xử theo đổi tượng

Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa toà án nhân dân và toà án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội (Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Theo quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án sau:

Thứ nhất, vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm ưa tình ưạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ ưong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với quân đội nhân dân ưong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ ưong quân đội nhân dân;

>> Xem thêm:  Đối tượng, chủ thể và phạm vi của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự ?

Thứ hai, vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 272 nói trên mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do quân đội nhân dân quản lí, bảo vệ;

Bí mật quân sự là bí mật của quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Thứ ba, toà án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả các tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật.

Ngoài quy định trên, Điều 273 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân và toà án quân sự. Theo đó, khi vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện như sau: trường hợp có thể tách vụ án thì toà án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự; toà án nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân; trường hợp không thể tách vụ án thì toà án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.

Thứ tư, ngoài những quy định trên, khi xác định thẳm quyền xét xử theo đối tượng cần chú ý:

- Thẩm quyền xét xử của toà án quân sự còn được phân biệt theo cấp bậc, chức vụ của quân nhân. Theo đó, các vụ án mà bị cáo khi phạm tội có cấp bậc từ thượng tá trở lên, có chức vụ từ sư đoàn trưởng và tương đương trở lên thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự cấp quân khu, không phụ thuộc và tội phạm thuộc loại nào. Các tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự khu vực (Xem Điều 26, Điều 29 Pháp lệnh toà án quân sự).

- Việc xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc vụ án hình sự có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lí (Người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lí là người luôn ở trạng thái hoàng loạn, sợ hãi, suy nhược về tinh thần và thể chất, rối loạn tâm thần và hành vi do tác động bời hành vi phạm tội gây ra) hoặc cần hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác (Người cần hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không cổ môi trường lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác là người có hoàn cảnh không bình thường (như: mồ côi, cha mẹ li hôn, haỵ bị bạo hành, có cha mẹ nghiện rượu, ma túy, vi phạm pháp luật...) dẫn đến bị thiếu thốn về vật chất, tinh thần, không có nơi ở, bỏ học hoặc không được đi học như những người dưới 18 tuổi khác) thuộc thẩm quyền của toà gia đình và người chưa thành niên. Đối với các toà án chưa to chức toà gia đình và người chưa thành niên thì việc xét xử vụ án do thẩm phán chuyên trách thực hiện (Xem: Điều 1 Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC quy định chi tiết về việc xét xừ vụ án hình sự có người tham gia to tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của toà án gia đình và người chưa thành niên).

4. Chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử

Theo quy định của BLTTHS năm 2015, nếu nhận thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình, toà án có quyền chuyển vụ án cho toà án có thẩm quyền xét xử. Quy định này gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn, vì khi giải quyết vụ án nếu thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của toà án mình thì toà án chuyển hồ sơ vụ án cho toà án có thẩm quyền xét xử nhưng viện kiểm sát không đồng ý và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố dẫn đến khó khăn trong giải quyết vụ án.

Để khắc phục bất cập trên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi phù họp với yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Theo đó, khi vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì toà án trả hồ sơ cho viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, viện kiểm sát đã truy tố phải ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến viện kiểm sát có thẳm quyền truy tố để giải quyết theo thẩm quyền.

>> Xem thêm:  Trình tự phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tiến hành như thế nào ?

Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc viện kiểm sát quân khu quyết định. Khi xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của toà án đã trả hồ sơ thì viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến toà án kèm theo văn bản nêu rõ lí do; nếu toà án thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử được thực hiện theo quy định tại Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Viện kiểm sát phải thực hiện theo quyết định của toà án có thẩm quyền. Thời hạn truy tố và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quy định tại Điều 240 và Điều 241 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

5. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử

Để thực hiện đúng quy định về thẩm quyền xét xử, ngoài việc quy định thẩm quyền xét xử theo sự việc, theo lãnh thổ và theo đối tượng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định việc giải quyết tranh chấp về thẳm quyền xét xử như sau:

Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa toà án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, giữa các toà án quân sự khu vực trong cùng một quân khu do chánh án toà án nhân dân cấp tỉnh, chánh án toà án quân sự quân khu quyết định;

Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, giữa các toà án quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do chánh án toà án nhân dân cấp tỉnh, chánh án toà án quân sự cấp quân khu nơi kết thúc việc điều tra quyết định;

Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các toà án nhân dân cấp tỉnh, giữa các toà án quân sự cấp quân khu thuộc các quân khu khác nhau do Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án quân sự trung ương quyết định.

Việc chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 274 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về thẩm quyền xét xử vụ án hình sự sơ thẩm, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thời hạn khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật ?

>> Xem thêm:  Vay tín chấp không có khả năng trả nợ có bị khởi tố hình sự không ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa ?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 73 luật tố tụng hình sự 2015 quy định :

1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

2. Người bào chữa có nghĩa vụ:

a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;

b) Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

c) Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan;

d) Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;

đ) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;

e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

g) Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật.

Câu hỏi: Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam ?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 80 bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định :

1. Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân.

2. Cơ quan quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự ?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 84 luật tố tụng hình sự 2015 quy định :

1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý.

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền:

a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

b) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản;

d) Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ; đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của bị hại và đương sự sau khi kết thúc điều tra;

đ) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa;

e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

g) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

h) Kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có nghĩa vụ:

a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án;

b) Giúp bị hại, đương sự về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.