Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  1900 6162

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Bộ luật hình sự

- Bộ luật tố tụng hình sự

- Luận án: " Chứng cứ trong xét xử vụ án hình sự về tội phạm xâm phạm sở hữu" 

2. Nội dung tư vấn:

1. Yêu cầu bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa

Về xét xử nói chung và sơ thẩm nói riêng phải dựa trên những chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xét xử này, dưới góc độ chứng cứ thì yêu cầu bảo đảm pháp chế XHCN được hiểu:
Trên cơ sở Điều 8 Hiến pháp năm 2013, Điều 7 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc “Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự”. Nguyên tắc này của BLTTHS năm 2015 đòi hỏi pháp luật tố tụng hình sự được nhận thức và thực thi thống nhất trong tất cả mọi hoạt động ở các giai đoạn tố tụng của quá trình giải quyết VAHS. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự được quán triệt trong quá trình lập pháp và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, nó có ý nghĩa bảo đảm cho việc tiến hành giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác có hiệu quả đồng thời bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong TTHS có những nội dung chính sau:
- Xây dựng hệ thống pháp luật TTHS đầy đủ, toàn diện, phù hợp với thực tế, điều kiện của đất nước ở từng giai đoạn. Trong cơ chế thực thi pháp luật, điều kiện tiên quyết có tính chất nền tảng là xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo, nhất là phải phù hợp với thực tế, với xu hướng thời đại, tác động tích cực đến sự phát triển đất nước. Những quy định này phải cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tế và không mâu thuẫn chồng chéo, có như vậy các qui định đó của luật tố tụng hình sự mới trở thành cơ sở vững chắc cho các hoạt động tố tụng hình sự. Về cơ bản BLTTHS năm 2015 đã đáp ứng được yêu cầu này, cùng với các văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác đã hình thành hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các khía cạnh, lĩnh vực hoạt động tố tụng hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm nói riêng, phù hợp với thực tiễn đấu tranh xử lý tội phạm ở nước ta.
- Tự giác, thực thi nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết VAHS. Nhiệm vụ tuân thủ pháp luật tố tụng hình sự trước hết thuộc về các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng do mọi hoạt động của các chủ thể này đều đại diện cho nhà nước và có ảnh hưởng lớn có tính quyết định tới việc giải quyết vụ án cũng như ảnh hưởng đến quyền con ngư i, lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân và các chủ thể tham gia tố tụng khác.
- Nguyên tắc “Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự” nhấn mạnh đến giới hạn của quy định pháp luật TTHS trong quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Định hướng “Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định” của Điều 7 BLTTHS 2015 đã khẳng định nguyên lý “chỉ được làm những việc pháp luật cho phép” của luật công, trong đó có luật TTHS. Như vậy, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi kết thúc vụ án mọi hoạt động tố tụng đều phải tuân thủ, không được thực hiện vượt quá giới hạn, phạm vi quy định của pháp luật

2. Yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả cải cách tư pháp

Những định hướng trong chiến lược cải cách tư pháp của nước ta đã xác định:
- Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
- Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác định TA có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ; tiến tới thực hiện chế độ thi tuyển đối với một số chức danh.
- Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, của công luận và của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.
Về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH phải dựa trên những định hướng trên trong quá trình cải cách nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này, giải quyết những vấn đề chứng cứ trong xét xử hiện nay, đòi hỏi phải:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự. Tăng cường ban hành, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện nhiều văn bản pháp luật về tố tụng. Theo đó, đã phân định một bước thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng, tạo điều kiện cho Thẩm phán, KSV, ĐTV chủ động thực thi nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật.
Xây dựng cơ chế thực hiện có hiệu quả trên thực tế chủ trương tăng cường, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, bảo đảm vai trò, trách nhiệm của luật sư và KSV trong hoạt động tranh tụng.
Thứ hai, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu. Tiếp tục hoàn thiện, triển khai thực hiện các đề án về việc tổ chức hệ thống TAND theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. TAND được tổ chức 4 cấp như kết luận số 79-KL/TW ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị. Đối với TAND sơ thẩm khu vực và VKSND tương ứng cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng. Nghiên cứu, xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của TA quân sự theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, những vụ án liên quan đến bí mật quân sự...
Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính dân chủ, công bằng, nghiêm minh. Nghiên cứu xác định rõ nội hàm và xây dựng cơ chế để TAND thực hiện đầy đủ quyền tư pháp. Hoàn thiện cơ chế để nâng cao chất lượng và hiệu quả tranh tụng, coi đây là khâu đột phá của cải cách tư pháp.
Xác định rõ phạm vi kiểm sát hoạt động tư pháp trong từng lĩnh vực, quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; tách bạch rõ vai trò KSV thực hành quyền công tố với KSV thực hiện công tác kiểm sát hoạt động tư pháp; tăng cư ng trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra.
Thứ ba, tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết VAHS.

3. Yêu cầu tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người

Trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH thì quyền con người được thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, quyền được xét xử nhanh chóng, không trì hoãn. Điểm c khoản 3 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đã quy định: “Ngư i bị buộc tội được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý”.
Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 của UNHRC cũng xác định tại Điều 27: “Một khía cạnh của phiên tòa công khai là tính chất nhanh chóng. Vấn đề xét xử không chậm trễ trong tố tụng hình sự được đề cập trong khoản 3c Điều 14, theo đó sự chậm trễ trong thủ tục tố tụng không thể biện minh bởi sự phức tạp của vụ án hoặc những hành vi của các bên là trái với nguyên tắc xét xử công bằng theo đoạn 1 của Điều 14. Trong trường hợp chậm trễ này là do thiếu nguồn lực thì cần bổ sung ngân sách cho thực thi pháp luật”. 
Đây là một quyền quan trọng góp phần rất lớn trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ pháp luật tố tụng. Việc chậm trễ không kịp thời có thể gây ra những ảnh hưởng về mặt vật chất, tinh thần và gây ra tâm lý không tốt cho những người tham gia tố tụng.
Thứ hai, quyền được xét xử công bằng. Đây thực chất là một tập hợp các đảm bảo tố tụng nhằm bảo đảm quá trình xét xử được công bằng, gồm: Bình đẳng trước TA; được xét xử bởi một TA độc lập, không thiên vị, công khai; được suy đoán vô tội; không bị áp dụng hồi tố; không hình sự hóa vụ án dân sự. Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền được xét xử công bằng đầu tiên được đề cập trong các Điều 10, 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngư i năm 1948 (UDHR). Theo Điều 10, mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ. Điều 11 bổ sung thêm một số khía cạnh cụ thể, theo đó: Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật tại một phiên toà xét xử công khai nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình. Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi hoặc sự tắc trách nào mà không cấu thành một phạm tội hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi hay có sự tắc trách đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện. Các quy định kể này sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa trong các Điều 11, 14, 15 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR).
Trong pháp luật Việt Nam, quyền này được thể hiện bằng nhiều quy định trong Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS. Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều ghi nhận quyền xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trước cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó, nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện rất rõ tại Điều 31 của Hiến pháp năm 2013, quyền được xét xử công bằng còn thể hiện ở những quy định bảo đảm quyền bào chữa cho ngư i phạm tội, quyền tranh tụng tại các phiên tòa, quyền độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, việc quy định về bồi thư ng cả về vật chất và tinh thần khi có oan sai xảy ra.
Nhìn chung trong những năm qua, hoạt động tố tụng hình sự đã có những kết quả khả quan góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những ngư i bị vi phạm, đặc biệt là những quyền lợi quan trọng và cơ bản gây ra những hậu quả nặng nề, khó khắc phục, có khi là không thể khắc phục. Chính vì vậy, bảo đảm quyền con ngư i trong hoạt động TTHS là vấn đề rất quan trọng cần được đề cao. Việc ban hành chính sách, quy định hợp lý, khả thi luôn phải đi đôi với việc đảm bảo thực hiện trên thực tế.

4. yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu

TAND khi xét xử các VAHS về các tội phạm XPSH  phải tuân thủ quy định của pháp luật, xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội; áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân. bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Khi xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH Tòa án thực hiện chức năng, vai trò sau: 

- xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của ĐTV,KSV, luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; xe xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án

- xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do CQĐT, ĐTV, KSV thu thập; do luật sư. bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp;

- Khi xét thấy cần thiết, tra hồ sơ yêu cầu VKS điều tra bổ sung; yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc TA kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của BLTTHS ;

- yêu cầu ĐTV, KSV và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa, khởi tố VAHS nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm. 

5. kết luận

Với vai trò, chức năng của mình, tòa  án, cùng các cơ quan chức năng có liên quan khi xét xử VAHS về TP XPSH đẫ đáp ứng được các yêu cầu nên trên và đảm bảo dược toàn vẹn quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên liên quan trong vụ án. 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê