Luật sư tư vấn:
Vấn đề Bạn quan tâm, Luật Minh Khuê xin được trao đổi như sau:
Căn cứ vào Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 và luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có thể nhận định như sau:
1. Các yêu cầu, nội dung giao kết, thực hiện hợp đồng cho vay
Hợp đồng cho vay có hiệu lực là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, hình thức và nội dung được pháp luật quy định, khi đó mới có hiệu lực pháp luật, ràng buộc các trách nhiệm để thực thi.
- Chủ thể giao kết hợp đồng cho vay: Là tổng thể những quy định đối với tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ hợp đồng cho vay (kể cả những chủ thể thuộc trường hợp bị giới hạn cho vay nhằm bảo đảm an toàn, khách quan trong hoạt động cấp tín dụng).
- Hình thức của hợp đồng cho vay: hợp đồng cho vay thể hiện dưới hình thức văn bản, ghi rõ nội dung các điều khoản cơ bản: số tiền vay, thời điểm giải ngân, tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ,... khi đó mới ràng buộc trách nhiệm của các bên. Trong trường hợp, hợp đồng vay không đáp ứng các yêu cầu về hình thức văn bản hợp đồng, đương nhiên hợp đồng vay đó sẽ không có giá trị pháp lý, các bên phục hồi nguyên trạng, hoàn trả những gì đã nhận, cùng hợp tác khắc phục hậu quả.
- Nội dung các điều khoản của hợp đồng cho vay:
Nội dung này bao gồm những điều khoản cơ bản, điều khoản thông thường, được các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng:
+ Đối tượng của hợp đồng vay: Là khoản tiền vay cụ thể ghi rõ thời điểm được giải ngân, lãi suất, phí tín dụng. Khoản tiền này phải trong hạn mức pháp luật cho phép cấp tín dụng đối với từng khách hàng vay. Tổ chức tín dụng khi cho vay phải có biện pháp dự phòng rủi ro, điều chỉnh lãi suất thích hợp với giá trị khoản vay, trong từng thời kỳ. Vì vậy, chính sách lãi suất phải minh bạch, không để xảy ra tình trạng bên vay phải gánh chịu những thiệt hại khi tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất điều chỉnh.
+ Thời hạn vay vốn: Ngân hàng huy động vốn bằng các kỳ hạn, theo nhu cầu ngắn hạn hay dài hạn của người gửi tiền. Việc sử dụng vốn cho vay phải có kế hoạch nhất định để bảo đảm hiệu quả, cân xứng với thời gian huy động vốn, không để nguồn vốn bị tồn đọng làm phát sinh chi phí, hiệu quả kinh tế thấp hoặc ngược lại. Dựa vào nhu cầu của bên vay, tổ chức tín dụng thường áp dụng các nghiệp vụ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phù hợp với nhu cầu tín dụng nên hợp đồng cho vay cũng phải thể hiện các nghiệp vụ cho vay tương ứng.
+ Mục đích sử dụng vốn vay: Quy định về mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng cho vay không làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của bên vay. Bên vay vẫn có quyền lựa chọn phương thức kinh doanh, đầu tư; lựa chọn công nghệ sản xuất,... để tiến hành hoạt động kinh doanh bình thường. Mục đích sử dụng vốn được tổ chức tín dụng đặt ra, ghi trong hợp đồng cho vay, bên cạnh nâng cao năng lực kiểm soát tín dụng (thẩm định hiệu quả khoản vay để đưa ra hạn mức phù hợp, dự liệu những rủi ro có thể xảy ra, kịp thời ngăn chặn hành vi sử dụng vốn trái pháp luật), quy định này còn nhằm làm gia tăng giá trị tài sản của bên vay, bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả nợ tốt hơn.
+ Điều khoản về giải ngân: tổ chức tín dụng thường bổ sung các điều kiện thực hiện nghĩa vụ này (điều kiện về tuân thủ các nghĩa vụ hợp đồng, điều kiện hoàn trả tiền vay và lãi suất, điều kiện giải ngân, điều kiện xử lý tài sản bảo đảm). Trên lý thuyết, các điều kiện giải ngân do tổ chức tín dụng đặt ra phải phù hợp phương thức vay vốn và năng lực bên vay tại thời điểm giải ngân. Tổ chức tín dụng thường đặt ra nhiều điều kiện giải ngân không hợp lý, gây khó khăn cho bên vay. Vì vậy, cần phân định rõ, chỉ những điều kiện, lý do gây trở ngại, nguy cơ rủi ro, mất an toàn cho vay, khi đó tổ chức tín dụng mới được thực hiện quyền này (ngưng giải ngân).
+ Bảo đảm tiền vay: Đây là yêu cầu bắt buộc khi cho vay, phần lớn được các tổ chức tín dụng quán triệt áp dụng, ngoại trừ các khoản vay nhỏ, được bảo đảm bằng nguồn thu ổn định của bên vay hoặc các chế tài lãi suất cao (áp dụng cho các khoản vay của công ty tài chính). Hợp đồng cho vay và hợp đồng bảo đảm phải có liên hệ pháp lý chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau để bảo đảm tính hiệu lực của hợp đồng bảo đảm. Sự thiếu liên kết giữa hai hợp đồng này trên thực tế vẫn xảy ra, nguy cơ không ràng buộc nghĩa vụ bảo đảm, phát sinh rủi ro cho ngân hàng, khoản nợ vay khi đó trở thành nợ không bảo đảm. Trong công tác thu hồi nợ, kể cả khi vận dụng cơ chế chủ động xử lý nợ sẽ gặp không ít những khó khăn có thể mất vốn.
+ Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cho vay: Được các bên thỏa thuận xác lập khi ký kết hợp đồng cho vay, kể cả sau khi tổ chức tín dụng giải ngân (chế tài, xử lý nợ). Việc phân chia quyền và nghĩa vụ hợp đồng là căn cứ làm sáng tỏ hơn ý nghĩa của từng điều khoản, trên nguyên tắc phải cân xứng quyền lợi với nhau như đúng nghĩa.
+ Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng cho vay: Các biện pháp chế tài vi phạm hợp đồng vay được pháp luật đặt ra phải phù hợp với đối tượng hợp đồng - vốn tiền tệ theo hướng bất lợi hơn đối với bên vi phạm. Trong phạm vi trách nhiệm, bên cho vay được quyền chấm dứt cho vay, thu hồi vốn vay trưởc hạn nếu bên vay cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng... Đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay, bên vay phải chịu chế tài bằng lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận, không được vượt quá 150/% lãi suất cho vay trong hạn.
+ Cơ cấu lại thời hạn trả nợ: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ không chỉ dừng lại ở phạm vi ý chí định đoạt của các bên hợp đồng, mà còn phải đáp ứng điều kiện khắt khe được Nhà nước đặt ra để bảo đảm an toàn tín dụng. Song các điều kiện pháp lý đó cũng phải mở ra hướng đi khả quan cho các tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện quyền này. Đó là lợi ích chính đáng của các chủ thể khi gặp khó khăn tạm thời, cần được các nhà làm luật quan tâm giải quyết bằng một cơ chế pháp lý phù hợp.
+ Xử lý tài sản thu hồi nợ: Thuật ngữ “thu hồi nợ” là khái niệm rộng, bao gồm các nghiệp vụ xử lý tài sản bảo đảm, hoán đổi nợ thành vốn góp (Thỏa thuận hoán đổi nợ thành vốn góp thường không được các bên đề cập, ghi trong hợp đồng cho vay trong thực tế vì còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện pháp luật. Điểm tích cực của biện pháp này là nó sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên, giúp khách hàng phục hồi kinh doanh, thoát khỏi nợ xấu. Nhưng bên cạnh đó quy định này sẽ không tránh khỏi tình trạng che giấu nợ xấu, ngân hàng không tập trung vào hoạt động kinh doanh. Do đó ngành ngân hàng đang thận trọng lấy ý kiến các chuyên gia trước khi ban hành quy định hên quan đến biện pháp này),... từ khi phát sinh nợ cho đến khi bên vay trả hết nợ. Nghiệp vụ này được thực hiện cả trong hoạt động tài phán, khi xảy ra tranh chấp nếu bên vay không hợp tác, bắt buộc tổ chức tín dụng yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, theo các bước thủ tục tố tụng dân sự.
Ngoài các điều khoản cơ bản trên, các bên có thể thỏa thuận những điều khoản thông thường như miễn giảm lãi, lựa chọn nơi giải quyết tranh chấp... Những thỏa thuận về điều khoản thông thường này cũng phải phù hợp với pháp luật để có cơ sở pháp lý thực hiện.
2. Quy trình giao kết, thực hiện hợp đồng cho vay
Quy trình cho vay phải đạt được mục tiêu đơn giản hóa thủ tục, nhưng vẫn duy trì hiệu quả, an toàn vay. Pháp luật về cho vay trong lĩnh vực ngân hàng trước đây cũng như hiện hành có đặt ra các thủ tục xét duyệt cho vay. Đây là yêu cầu bắt buộc để mang lại hiệu quả khoản vay, nên không thể định lượng khoản tiền vay để bỏ qua các thủ tục này, kể cả khi cho vay tiêu dùng (các khoản vay thường có giá trị nhỏ), bên vay cũng phải chứng minh có năng lực tài chính thông qua các khoản thu nhập thường xuyên của mình (Chẳng hạn, ở Đức, cho vay trên 100.000 Mác Đức (DM) thì tổ chức tín dụng mối yêu cầu người vay phải trình bày các mối quan hệ kinh tế, xuất trình quyết toán năm - Điều 18 Luật về Ngành tín dụng Đức)).
Quy trình ký kết, thực hiện hợp đồng cho vay gồm nhiều công đoạn khác nhau, bắt đầu từ lúc tiếp nhận hồ sơ vay vốn cho đến khi bên cho vay thu hồi hết nợ, thanh lý hợp đồng cho vay. Quy trình này bao gồm các công đoạn chính như sau: lập hồ sơ đề nghị ký kết hợp đồng cho vay (hồ sơ tín dụng); xét duyệt cho vay; ký kết hợp đồng cho vay, hợp đồng bảo đảm; thực hiện hợp đồng cho vay (giải ngân, kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay, thu hồi nợ, thanh lý hợp đồng).
- Đề nghị ký kết hợp đồng cho vay: Đây là một biện pháp nghiệp vụ, pháp lý bắt buộc thực hiện. Theo đó, bên vay phải lập hồ sơ đề nghị ký kết hợp đồng vay (bộ phận quan hệ khách hàng của tổ chức tín dụng thường hỗ trợ thủ tục này). Hồ sơ vay vốn phải thể hiện đầy đủ thông tin về số tiền vay, điều kiện vay vốn, tài liệu chứng từ bảo đảm tiền vay, mục đích sử dụng vốn, phương án sản xuất, kinh doanh (luận chứng kinh tế, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường...). Chỉ những hồ sơ đủ điều kiện vay vốn, ngân hàng mối được phép xét duyệt cho vay. Trường hợp không đáp ứng các yêu cầu trên, tổ chức tín dụng có thể yêu cầu khách hàng bổ sung hồ sơ năng lực kinh tế - pháp lý để được vay hoặc quyết định từ chối cho vay.
Để chủ động tìm kiếm khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng thường tích cực mời chào cấp tín dụng, đơn giản thủ tục vay,... Khách hàng có tín nhiệm cao, quan hệ tín dụng tốt, pháp luật cho phép tổ chức tín dụng cho vay tín chấp, bỏ qua các thủ tục giao dịch bảo đảm vốn dĩ rườm rà, phức tạp.
- Thủ tục xét duyệt tín dụng: Đây là quy trình bắt buộc khi cho vay, thủ tục này được thực hiện trước khi ký kết hợp đồng và gắn liền với hiệu quả thực thi hợp đồng. Đối với những khoản vay lớn, phức tạp, tổ chức tín dụng còn phải tiến hành thủ tục kiểm định, thẩm định trên nguyên tắc, đáp ứng các điều kiện vay vốn được pháp luật quy định (các chi nhánh, hội sở, hội đồng ngân hàng được phân định xét duyệt khoản vay theo từng hạn mức nhất định để khoản vay an toàn hơn, đồng thời chủ động sắp xếp giải ngân theo tiến độ hợp lý đối với những hợp đồng có giá trị vay lớn).
Công tác xét duyệt tín dụng còn có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm với bên vay ngay trước khi ký kết hợp đồng. Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nhưng kết thúc giai đoạn xét duyệt tín dụng, tổ chức tín dụng phải có văn bản (quyết định) chấp thuận hoặc từ chối cho vay, ghi rõ các lý do xác đáng trong các quyết định này.
- Ký kết hợp đồng cho vay: Hành vi ký kết hợp đồng cho vay là căn cứ thể hiện sự đồng ý của các bên về những điều khoản của hợp đồng để thực thi. Khác với các giao dịch thương mại thông thường, các bên chỉ cần có đề nghị ký kết hợp đồng dưới hình thức đơn thư chào hàng, cung ứng dịch vụ được chấp nhận, thì ký kết hợp đồng cho vay là kết quả của quá trình xét duyệt tín dụng, thể hiện ý chí của các bên về những cam kết sẽ thực hiện. Do đó, các bên phải gặp gỡ thảo luận, kiểm tra năng lực, trực tiếp ký, đóng dấu (chứng minh tư cách pháp nhân) vào bản hợp đồng.
Người ký kết hợp đồng cho vay phải có năng lực, thẩm quyền hợp pháp. Nếu là tổ chức có tư cách pháp nhân, thì phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện, trường hợp khác phải có văn bản ủy quyền hợp pháp. Hợp đồng cho vay sau khi ký kết có giá trị ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm, các bên phải thực hiện nghiêm túc nội dung hợp đồng theo thỏa thuận.
Thông thường việc ký kết hợp đồng cho vay được tiến hành tại nơi thực hiện hợp đồng (ngân hàng nơi cấp tín dụng). Hợp đồng phải ghi rõ nơi ký kết, làm cơ sở thực hiện, xác định thẩm quyền của Tòa án, trọng tài khi giải quyết tranh chấp về sau.
- Thực hiện hợp đồng cho vay: Các bên có trách nhiệm tuân thủ các cam kết, nếu vi phạm hợp đồng phải chịu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Những thay đổi nội dung điều khoản hợp đồng phải được thực hiện trên tinh thần thương lượng, thống nhất, không trái pháp luật, đồng thời cũng phải được lập thành văn bản do người có năng lực, thẩm quyền của bên tham gia hợp đồng ký kết.
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.