xâm phạm tới các quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

1. Khái niệm khiếu nại trong tố tụng dân sự

Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, thể hiện quyền tự do dân chủ của công dân. Theo Điều 30 Hiến pháp năm 2013 thì:

“Mọi người có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” và “cơ quan, tổ chức, cá nhân có tham quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo; người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật” .

Cụ thể hoá quy định này của Hiến pháp năm 2013, Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại... những hành vì, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự".

Việc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền này được gọi là khiếu nại trong tố tụng dân sự.

Khiếu nại trong tố tụng dân sự là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thủ tục do luật định đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại hành vi, quyết định tố tụng dân sự khi có căn cứ cho răng quyêt định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm qưyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Người có quyền khiếu nại trong trong tố tụng dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân cho rằng hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối tượng của khiếu nại trong tố tụng dân sự là hành vi, quyết định trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Tuy vậy, quyết định và hành vi của các chủ thể nẳy chỉ trở thành đối tượng của khiếu nại tố tụng dân sự khi được thực hiện trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự người khiếu nại cho rằng ttái pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Ngoài ra, đối với các bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của tòa án nếu có kháng cáo, kháng nghị và các quyết định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng dân sự ban hành, nếu có khiếu nại, kiến nghị thì không thuộc đối tượng của khiếu nại tố tụng mà được giải quyết theo các quy định tương ứng của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đổi tượng của khiếu nại trong tố tụng dân sự có đặc điểm khác với đối tượng của khiếu nại hành chính. Đối tượng của khiếu nại hành chính là các hành vi hành chính, quyết định hành chính hoặc quyết định kỉ luật cán bộ công chức; còn đối tượng khiếu nại trong tố tụng dân sự là các quyết định, hành vi tố tụng được thực hiện trong quá trình tố tụng .

2. Người khiếu nại và bị khiếu nại trong tố tụng dân sự

- Người khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người khiếu nại thực hiện tốt nhất quyền khiếu nại của mình, pháp luật tố tụng dân sự quy định cho người có quyền khiếu nại có quyền tự quyết định việc khiếu nại hay không khiếu nại, tự mình hoặc thống qua người đại diện hợp pháp khiếu nại. Trong trường hợp thấy cần khiếu nại thì có thể khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án dân sự đồng thời có thể rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại. Ngoài ra, người khiếu nại còn có quyền được nhận văn bản trả lời về việc thụ lí để giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện quyền khiếu nại, người khiếu nại có nghĩa vụ khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết; trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu ưách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật (Điều 500 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

- Người bị khiếu nại là cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự bị cá tìhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại. Người bị khiếu nại có các quyền được biết các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi trong tố tụng bị khiếu nại; được nhận quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi trong tố tụng của mình. Đồng thời người bị khiếu nại có nghĩa vụ giải trình về quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự bị khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật; bồi thường thiệt hại, hoàn trả hoặc khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật (Điều 501 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

3. Việc giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự

>> Xem thêm:  Đơn khiếu nại, tố cáo là gì ? Khái niệm, cách hiểu về đơn khiếu nại, tố cáo

- Thời hiệu khiếu nại

Việc giải quyết khiếu nại nói chung và việc giải quyết khiếu nại trong tố tụng nói riêng phải được thực hiện nhanh chóng và kịp thời. Để đáp ứng yêu cầu này, Điều 502 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định thời hạn để người khiếu nại thực hiện việc khiếu nại, nếu hết thời hạn này mà người khiếu nại không thực hiện việc khiếu nại thì không còn quyền khiếu nại. Thẹo đó, thời hiệu khiếu nại là mười lăm ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền khiếu nại của người khiếu nại trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc ttở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn quy định thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan pháp luật quy định không tính vào thời hiệu khiếu nại.

- Thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Về nguyên tắc, các cơ quan nhà nước, người lãnh đạo các cơ quan nhà nước đều phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi, hoạt động công vụ do cán bộ, công chức của cơ quan mình và cấp dưới thực hiện. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự được xác định như sau:

+ Đối với khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng dân sự của nhân viên thuộc cơ quan nào thì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết;

+ Đối với khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng dân sự của thù trưởng cơ quan nào thì do người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp giải quyết.

Trên cơ sở các nguyên tắc trên thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong những trường họp cụ thể được xác định như sau:

+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của thẩm phán, phó chánh án, thẩm tra viên, thư ký tòa án, hội thẩm nhân dân do chánh án tòa án đang giải quyết vụ việc có thẩm quyền giải quyết.

+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của chánh án tòa án do chánh án tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết.

+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của phó viện trưởng viện kiểm sát, kiểm sát viên, kiểm tra viên do viện trưởng viện kiểm sát giải quyết, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn thủ tục khiếu nại về thuế uy tín, chuyên nghiệp

+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của viện trưởng viện kiểm sát do viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

+ Khiếu nại về hành vi trong tố tụng dân sự của người giám định do người đứng đầu tổ chức giám định trực tiếp quản lí người giám định giải quyết, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại với người đứng đầu cơ quan quản lí cấp trên trực tiếp của tổ chức giám định. Quyết định của người đứng đầu cơ quan quản lí cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng.

- Thủ tục giải quyết khiếu nại

+ Người khiếu nại phải thực hiện việc khiếu nại bằng đơn gửi cho người cọ thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lí do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.

+ Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nghiên cứu đơn khiếu nại và các tài liệu do người khiếu nại cung cấp. Việc nghiên cúru đơn cần phải xác định, làm rõ được yêu cầu của người khiếu nại; phạm vi khiếu nại; căn cứ khiếu nại; nội dung các tài liệu, chứng cứ được gửi kèm theo đơn khiếu nại ...

+ Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp xúc với người khiếu nại. Thông qua việc tiếp xúc với người khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ hiểu rõ hơn mong muốn, yêu cầu của người khiếu nại mà nhiều khi trong đơn họ không trình bày đầy đủ.

+ Sau khi xác định được thẩm quyền của mình hoặc cơ quan mình đối với việc giải quyết khiếu nại thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thụ lí việc khiếu nại. Theo quy định tại Điều 505 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa án, viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, người giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lí để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết, trường hợp không thụ lí cũng phải nêu rõ. Trường hợp cần thiết đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại. Do đó, trong thời hạn này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự phải xem xét đơn khiếu nại để quyết định việc thụ lí khiếu nại hay không vặ báo cho người khiếu nại biết.

+ Tiến hành thẩm tra xác minh để giải quyết khiếu nại. Khiếu nại được giải quyết đúng pháp luật hay không phụ thuộc vào việc thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ hay không. Khi xác minh cần khách quan trung thực đảm bảo tính xác thực của chứng cứ, tài liệu. Cần phân tích tổng hợp kỹ lưỡng để đi đến đánh giá các thông tin thu được từ đó có kết luận từng vấn đề.

+ Sau khi đã xác minh được các vấn đề liên quan đến khiếu nại và đã đủ căn cứ để giải quyết khiếu nại thì người có thẩm quyền phải ra quyết định giải quyết khiếu nại.

+ Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các nội dung sau: ngày tháng năm ra quyết định giải quyết khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại và nội dung quyết định giải quyết khiếu nại.

>> Xem thêm:  Khi nào thì khiếu nại lần hai? Khiếu nại về đất đai thì phải làm như thế nào mới đúng luật?

+ Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải được gửi cho người khiếu nại, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại của chánh án thì phải được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp.

- Khiếu nại đồi với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu

+ Sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu không đồng ý với quyết định đó thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai. Đơn khiếu nại lần hai phải ghi rõ ngày tháng năm làm đơn; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung; lí do khiếu nại; có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại, kèm theo đơn là bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu cần thiết.

+ Tương tự như giải quyết khiếu nại lần đầu, người có thẩm quyền thụ lí, giải quyết khiếu nại lần hai và ra quyết định giải quyết khiếu nại lần hai. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành. Quyết định này phải được gửi ngay cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức có liên quan. Trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của chánh án tòa án thì quyết định phải được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp.

- Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền phải được mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng. Khi quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, các cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan có nghĩa vụ chấp hành phải nghiêm chỉnh chấp hành, nếu không sẽ bị xử lí theo quy định của pháp luật; người bị thiệt hại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp và được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Mua đất nông nghiệp theo Nghị định 64 thì có cấp sổ đỏ được không ?