1. Khái niệm tố cáo trong tố tụng dân sự

Bất kỳ công dân nào, khi phát hiện hành vi trái pháp luật của cá nhân, cơ quan, tổ chức gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức đều có quyền tố cáọ với cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để có biện pháp xử lí kịp thời.

Cụ thể hoá quy định trên trong tố tụng dân sự, Điều 25 và Điều 509 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“... cá nhân có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự...”, “cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vì vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.

Việc cá nhân thực hiện quyền này được gọi là tố cáo trong tố tụng dân sự.

Tổ cáo trong tố tụng dân sự là hoạt động của cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dân sự gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Khác với khiếu nại trong tố tụng dân sự, tố cáo trong tố tụng dân sự do cá nhân thực hiện. Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

2. Người tố cáo và người bị tố cáo trong tố tụng dân sự

- Người tố cáo trong tố tụng dân sự là người báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Để đảm bảo an toàn cho người tố cáo đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi người dân thực hiện quyền tố cáo, tránh việc lợi dụng quyền tố cáo để vu khống người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng dân sự, pháp luật đã quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của người tố cáo. Theo quy định tại Điều 510 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người tố cáo có các quyền và nghĩa vụ sau:

+ Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;

+ Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ và bút tích của mình;

+ Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;

+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe doạ, trù dập hoặc trả thù;

+ Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;

+ Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.

- Người bị tô cáo trong tố tụng dân sự là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức bị cá nhân tố cáo với cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Để tránh làm oan người bị tố cáo đồng thời bảo đảm dân chủ, công khai trong việc giải quyết tố cáo, pháp luật đã quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của người bị tô cáo. Theo Điều 511 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người bị tố cáo có các quyền và nghĩa vụ sau:

+ Được thông báo về nội dung tố cáo;

+ Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;

+ Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;

+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lí người tố cáo sai sự thật;

+ Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;

+ Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lí của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;

+ Bồi thường thiệt hại, hoàn trả hoặc khắc phục hậu quả do hành vi tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.

3. Việc giải quyết tố cáo trong tố tụng dân sự

- Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo

+ Nguyên tắc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền nào thì người đứng đầu cơ quan đó có ttách nhiệm giải quyết. Trong trường hợp người bị tố cáo là chánh án, phó chánh án tòa án, viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát thì chánh án tòa án cấp trên trực tiếp, viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có ttách nhiệm giải quyết.

+ Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 02 tháng kể từ ngày thụ lí; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tổ cáo có thể dài hơn nhưng không quá 03 tháng (Điều 512 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

- Thủ tục giải quyết tố cáo

Điều 513 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo. Theo đó phải chú ý những vấn đề sau:

+ Khi thực hiện quyền tố cáo, người tố cáo phải làm đơn tố cáo. Trong đơn tố cáo phải nêu rõ họ tên, địa chì của người tố cáo, nội dung việc tố cáo. Đơn tố cáo được gửi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp người tố cáo trực tiếp đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo để tố cáo thì người có trách nhiệm tiếp nhận tố cáo của các cơ quan, tổ chức đó phải ghi lại nội dung tố cáo, họ, tên và địa chỉ của người tố cáo. Khi cần thiết có thể ghi âm lời tố cáo. Bản ghi nội dung tố cáo phải được người tố cáo đọc lại hoặc nghe lại và có chữ ký xác nhận của người tố cáo. Khi tiếp nhận các thông tin, tài liệu do người tố cáo, người bị tố cáo hoặc do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp thì người giải quyết tố cáo phải làm giấy biên nhận và có chữ ký của người tiếp nhận và người cung cấp.

Việc giải quyết tố cáo phải đảm bảo khách quan, chính xác và có hiệu quả đồng thời cũng phải hạn chế việc tố cáo tràn lan, lợi dụng tổ cáo để vu khống người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký.

+ Sau khi đã tiếp nhận đơn tố cáo, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải tiến hành xác minh nội dung tố cáo bằng việc thu thập các chứng cứ để chứng minh tính đúng sai của nội dung tố cáo. Việc thu thập chứng cứ, tài liệu trong quá trình xác minh phải được lập thành văn bản và lưu vào hồ sơ giải quyết tố cáo.

+ Trên cơ sở kết quả xác minh về nội dung tố cáo, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải kết luận và xử lí kịp thời. Trường hợp người bị tố cáo không có hành vi vi phạm pháp luật phải có kết luận và thông báo bằng ván bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lí người bị tố cắo biết. Trường hợp người bị tố cáo có hành vi'vi phạm pháp luật thì kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí. Trưởng hợp hành vi bị tế cáo có dấu hiệu phạm tội thì chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

4. Trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự

Để bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự, đồng thời đề cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, pháp luật tố tụng dân sự quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Theo đó, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; xử lí nghiêm minh những người vi phạm pháp luật; áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn những thiệt hại có thể xảy ra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Trong trường hợp người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo nếu không tiếp nhận giải quyết khiếu nại, tố cáo; thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo .hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo ttái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không đúng pháp luật mà gây thiệt hại thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo còn phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại theo quy định của pháp luật (Điều 514 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Luật Minh Khuê (biên tập)