1. Thỏa ước lao động tập thể là gì?
Thỏa ước lao động tập thể được ra đời trên thế giới từ rất sớm, vào khoảng cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX tại các nước tư bản. Điều này cho thấy, pháp luật các quốc gia đều nhìn nhận thỏa ước lao động tập thể thực sự là một phương tiện rất quan trọng giúp các bên trong quan hệ lao động cân bằng được lợi ích, đồng thời điều chỉnh mối quan hệ lao động, hỗ trợ hiệu quả cho pháp luật lao động của Nhà nước.
Theo đó, khuyến nghị số 91 về Thỏa ước lao động tập thể của ILO đã đưa ra định nghĩa về thỏa ước lao động tập thể một cách tương đối cởi mở nhằm tính đến những điều kiện khác nhau tại các quốc gia, cụ thể: Thỏa ước lao động tập thể được hiểu là mọi thỏa thuận bằng văn bản về những điều kiện lao động và sử dụng lao động, được ký kết giữa một bên là một người sử dụng lao động, một nhóm người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động với một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện của những người lao động và nếu không có các tổ chức đó, thì do các đại diện của những người lao động hữu quan được họ bầu ra hay ủy quyền đúng mức theo pháp luật quốc gia.
Trên tinh thần định nghĩa của ILO, Khoản 1 Điều 75 Bộ luật lao động năm 2019 của Việt Nam đưa ra cách giải thích về thỏa ước lao động tập thể như sau:
"Thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể và được các bên ký kết bằng văn bản.
Thỏa ước lao động tập thể bao gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp và các thỏa ước lao động tập thể khác."
2. Tầm quan trọng của thỏa ước lao động tập thể?
Sự ra đời và phát triển của thỏa ước lao động tập thể nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động tại một doanh nghiệp, một khu vực, một ngành hoặc tại một quốc gia. Theo đó, thỏa ước lao động tập thể có vai trò vô cùng quan trọng, được thể hiện dưới các góc độ:
- Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý chủ yếu để tạo nên mối quan hệ lao động có tính tập thể. Từ đó, trách nhiệm cộng đồng của cả hai bên được tạo nên song song với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động.
- Thỏa ước lao động tập thể điều hóa lợi ích của các bên và ổn định quan hệ lao động.
- Thỏa ước lao động tập thể tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho doanh nghiệp.
- Thỏa ước lao động tập thể tăng cường kỷ luật lao động, hỗ trợ sản xuất kinh doanh.
- Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp lao động.
3. Quy định mới về sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể
Khi thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện đúng theo những điều khoản trong thỏa ước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nếu các bên không còn muốn áp dụng các điều khoản đó vì các lý do khác nhau thì có thể sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp.
Trong Bộ luật lao động 2012 trước đây quy định rằng, đề các điều khoản của thỏa ước được kiểm nghiệm trên thực tế thì phải trải qua một thời gian nhất định mới có quyền sửa đổi, bổ sung. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 77 đã quy định:
"1. Các bên có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể trong thời hạn sau đây:
a) Sau 03 tháng thực hiện đối với thỏa ước lao động tập thể có thời hạn dưới 01 năm;
b) Sau 06 tháng thực hiện đối với thỏa ước lao động tập thể có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm."
Tuy nhiên, hiện nay quy định này đã hoàn toàn bị bãi bỏ và thay thế bằng quy định khác tại Khoản 1 Điều 82 Bộ luật lao động 2019. Cụ thể như sau:
"Thỏa ước lao động tập thể chỉ được sửa đổi, bổ sung theo thỏa thuận tự nguyện của các bên, thông qua thương lượng tập thể."
Như vậy theo quy định mới nhất, pháp luật không quy định về thời hạn thực hiện thỏa ước lao động tập thể như trong Bộ luật lao động cũ. Điều này tạo sự linh hoạt hơn cho người sử dụng lao động và người lao động, tạo điều kiện cho các bên tự điều chỉnh những thỏa thuận chưa phù hợp với thực tiễn tại cơ sở, hơn nữa quy định này nhằm tăng cường trách nhiệm của các bên trong quá trình thương lượng tập thể và thể hiện tính mở, linh hoạt của pháp luật lao động.
Bên cạnh đó, việc sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể phải được thực hiện đảm bảo đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục, điều kiện ký kết thỏa ước tập thể. Trong đó:
- Về nguyên tắc: Việc thay đổi, bổ sung thỏa ước phải dựa trên nguyên tắc thiện chí, tự nguyện, bình đẳng, hợp tác giữa các bên, công khai và minh bạch.
- Về việc lấy ý kiến: Theo quy định tại Điều 76 Bộ luật lao động 2019, việc lấy ý kiến đối với mỗi loại thỏa ước là khác nhau. Ví dụ, đối với thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp chỉ được ký kết khi có trên 50% người lao động của doanh nghiệp biểu quyết tán thành.
- Ký kết, thông báo và gửi thông báo thỏa ước lao động: Thỏa ước lao động tập thể được ký kết bởi đại diện hợp pháp của các bên thương lượng. Sau khi thỏa ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng lao động phải công bố cho người lao động của mình biết.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thỏa ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng lao động tham gia thỏa ước phải gửi 01 bản thỏa ước lao động tập thể đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính.
4. Các trường hợp dẫn tới sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể mới nhất
Tương tự như hợp đồng lao động, trong quá trình thực hiện thỏa ước lao động tập thể, các bên có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể sao cho phù hợp với điều kiện thực tế. Theo đó, có 02 trường hợp dẫn tới việc phải sửa đổi, bổ sung thỏa ước, đó là theo thỏa thuận tự nguyện của các bên và khi pháp luật có sự thay đổi về nội dung điều chỉnh thỏa ước lao động.
Ở trường hợp thứ nhất, đó là việc sửa đổi, bổ sung theo thỏa thuận tự nguyện của các bên, thông qua thương lượng tập thể.
Ở Bộ luật lao động năm 1994 và Bộ luật lao động năm 2012 quy định các bên chỉ có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thỏa ước sau 03 tháng thực hiện đối với thỏa ước lao động tập thể có thời hạn dưới 01 năm và sau 06 tháng thực hiện đối với thỏa ước lao động tập thể có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm.
Đến Bộ luật lao động 2019 thì pháp luật không còn quy định giới hạn thời gian này mà chỉ nhấn mạnh đến kết quả là việc sửa đổi theo thỏa thuận tự nguyện của các bên. Việc sửa đổi trong Bộ luật lao động 2019 mang lại yếu tố tích cực là tạo sự linh hoạt và tôn trọng thỏa thuận của mỗi bên.
Tuy nhiên, việc quy định giới hạn thời gian tối thiểu để các bên được quyền đưa ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung thỏa ước đã ký kết ở Bộ luật trước đây cũng có yếu tố tích cực, đó là tạo ra một khoảng thời gian nhất định để thực thi những thỏa thuận đã đạt được, qua đó nắm được mức độ phù hợp hay không phù hợp của những thỏa thuận đã đạt được để các bên đi đến những quyết định tiếp theo là tiếp tục duy trì hay cần phải tiến hành sửa đổi, bổ sung.
Trong một số trường hợp, nhất là ở những nơi mà sự hợp tác của hai bên trong xây dựng quan hệ lao động bị hạn chế thì việc bỏ quy định khống chế thời gian tối thiểu giúp hai bên được đưa ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung vào bất cứ thời điểm nào sẽ tạo ra cơ hội nhiều hơn cho các bên trong việc đưa ra các đòi hỏi về xác lập các điều kiện lao động mới ngay trên cơ sở các thỏa thuận vừa đạt được mà chưa có đủ thời gian kiểm chứng xem những thỏa thuận đã đạt được trước đó có phù hợp hay chưa.
Ở trường hợp thứ hai, khi pháp luật thay đổi nội dung điều chỉnh với thỏa ước lao động tập thể dẫn đến thỏa ước lao động tập thể không còn phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong trường hợp này thì các bên phải tiến hành sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể sao cho phù hợp với quy định của pháp luật. Đòi hỏi này là đương nhiên vì nguyên tắc chung của Bộ luật lao động là tôn trọng thỏa thuận ý chí của các bên nhưng các thỏa thuận đó phải phù hợp và không trái với quy định của pháp luật.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về chủ đề Quy định mới về sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể và các quy định pháp luật khác có liên quan. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.
Nếu có bất cứ thắc mắc nào cần giải quyết, quý khách hàng vui lòng liên hệ trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7. Gọi số 1900.6162 hoặc gửi email chi tiết tại: Tư vấn pháp luật qua Email. Chúng tôi rất mong nhận được sự hợp tác từ quý khách hàng. Trân trọng./.