Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Dân sự năm 2015

Bộ Luật Lao động năm 2012

2. Nội dung tư vấn

Giao kết hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên để hướng tới những mục đích chung nhất định. Tuy nhiên, trong một số trương hợp cụ thể để đảm bảo quyền và lợi ích giữa các bên thì pháp luật ở mỗi lĩnh vực khác nhau lại có những quy định riêng về vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng. 

* Các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 128 BLDS 2015, điều kiện đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được quy định như sau: Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Đối với mỗi loại hợp đồng cụ thể thì pháp luật có những quy định riêng về điều kiện để các bên đơn phương chấm dứt hợp đồng:

- Đối với hợp đồng lao động: Người Lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 37 BLLĐ 2012, Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 38 BLLĐ 2012. 

>> Xem thêm:  Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà hợp pháp mới 2020 ?

- Đối với hợp đồng thuê tài sản: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 478 BLDS 2015, bên thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản thuê mà bên thuê không được sử dụng tài sản ổn định. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 480 và khoản 2 Điều 481, bên cho thuê tài sản có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp bên thuê sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đúng công dụng hoặc bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp đối với thỏa thuận trả tiền thuê theo kì.

- Đối với hợp đồng vận chuyển hành khách: Bên vận chuyển có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 525 BLDS 2015; Hành khách có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong trường hợp bên vận chuyển vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều 524 BLDS 2015.

Như vậy, các bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu có thỏa thuận, còn trong những hợp đồng dân sự cụ thể thì pháp luật cho phép một bên được quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đông nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu bên kia không thực hiện đúng nghĩa vụ.

* Nghĩa vụ thông báo cho bên kia khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 428 BLDS 2015, Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Nghĩa vụ báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012 tức ít nhất 3 ngày trong những trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động do lỗi từ phía người sử dụng lao động hoặc bản thân ốm đau, tai nạn đã điều trị dài ngày mà không khỏi; ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn, 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do của gia đình, bản thân không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng lao động đối với lao động nữ mang thai theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 BLLĐ 2012, Người sử dụng lao động phải đáp ứng thời hạn báo trước it nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn; 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

* Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng:

Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.

Riêng đối với hợp đồng lao động, việc một trong hai bên đơn phương chấm dứt phải tuân thủ nghĩa vụ báo trước một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật lao động, do đó, hợp đồng lao động chỉ chấm dứt khi bên thực hiện quyền đơn phương chấm dứt đảm bảo được thời hạn chấm dứt. Các khoản thanh toán phần nghĩa vụ mà người lao động đã thực hiện được tính đến thời điểm hợp đồng chấm dứt trên thực tế.

* Vấn đề bồi thường thiệt hại:

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?

Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường. Khi đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, không phải bất cứ trường hợp nào bên chấm dứt thực hiện hợp đồng cũng phải bồi thường thiệt hại nếu vì việc chấm dứt đó mà gây thiệt hại cho bên kia. Như vậy, với nguyên tắc bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại, thì một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhưng người phải bồi thường thiệt hại lại có thể là bên kia nếu nguyên nhân gây ra chấm dứt hợp đồng là sự vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng của họ.

Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.

Tôi làm nhà và thuê một chủ thầu xây dựng. Hai bên có ký kết hợp đồng với nhau. Công việc xây dựng mới được 50% thì chủ thầu đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tôi đã tạm ứng cho chủ thầu xây dựng số tiền lớn hơn số công việc mà chủ thầu xây dựng đã làm. Tôi có giữ lại của chủ thầu xây dựng một số máy móc và dàn giáo mục đích là để chủ thầu xây dựng hoàn trả lại số tiền mà tôi đã tạm ứng. Hành động của tôi như vậy đúng hay sai. Và tôi phải làm gì? Xin luật sư tư vấn giúp tôi.

 Theo quy định của BLDS 2015, chủ thầu xây dựng nhà cho bạn có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong trường hợp bạn là bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng. Theo đó, hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện. Trong trường hợp bên chủ thầu xây dựng đã được bạn thanh toán vượt quá số tiền thanh toán cho phần nghĩa vụ đã thực hiện thì phải trả lại phần vượt quá này cho bạn. Việc trả lại khoản tiền này có thể do hai bên thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp. Việc bạn chiếm giữ tài sản không phải là tài sản của mình, không được sự đồng ý của bên kia là vi phạm pháp luật hình sự về "tội chiếm giữ trái phép tài sản".

Kính gửi Luật sư, Đầu năm 2015 em có ký hợp đồng tư vấn du học với Công ty xúc tiến học bổng ALT. Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu và hợp tác, Công ty đã thu tổng số tiền là 70 trđ nhưng không giải thích cũng như cung cấp chứng từ về việc đã chi cho vấn đề nào. Ngoài ra, công ty không cung cấp tên trường đã nộp hồ sơ. Qua tìm hiểu cá nhân em được biết Công ty tự chọn những trường có tiêu chuẩn không cao theo như trong hợp đồng. Vì vậy em quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng. Trong hợp đồng có điều khoản: Sinh viên không được thắc mắc hay hoàn lại bất kỳ khoản tiền nào. Vậy công ty không có nghĩa vụ giải thích số tiền đã chi vào việc gì cũng như sẽ không phải hoàn lại tiền đúng không ạ? Đã có rất nhiều bạn sinh viên gặp trường hợp như em. Kính mong luật sư hỗ trợ giải đáp.

 Theo quy định tại Điều 78 Luật thương mại 2005: "Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất định thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với các điều khoản và mục đích của hợp đồng." Như vậy, nếu công ty này thực hiện việc lựa chọn những trường có tiêu chuẩn thấp hơn tiêu chuẩn đã đặt ra trong hợp đồng với ban thì hành vi này là vi phạm nghiêm trọng đến nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ theo kết quả công việc. Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự, bạn có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Căn cứ vào lỗi của bên công ty cung ứng dịch vụ thì công ty này có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho bạn trong trường hợp này. Do đó, số tiền mà bạn đã thanh toán trước cho công ty này sẽ là căn cứ để thực hiện việc bồi thường trong trường hợp này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hỏi về hoàn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hợp đồng thử việc ?

>> Xem thêm:  Thời gian thử việc không được nhận phụ cấp có đúng luật ?