- 1. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8882 : 2011 về chất lượng đất, xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy dùng phổ hấp thụ nguyên tử hơi ra sao?
- 2. Quy định về chất lượng đất, xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy
- 3. Cách tính hàm lượng thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy ra sao?
1. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8882 : 2011 về chất lượng đất, xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy dùng phổ hấp thụ nguyên tử hơi ra sao?
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8882:2011 là một tiêu chuẩn quan trọng trong lĩnh vực chất lượng đất, được Ban Kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 190 Chất lượng đất biên soạn, và được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Tiêu chuẩn này đã được chứng nhận là hoàn toàn tương đương với ISO 16772, một tiêu chuẩn quốc tế có liên quan đến việc xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy.
Theo TCVN 8882:2011, phương pháp xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy được quy định bằng cách sử dụng phổ hấp thụ nguyên tử hơi-lạnh hoặc phổ huỳnh quang nguyên tử hơi-lạnh. Đây là những phương pháp tiên tiến và đáng tin cậy để xác định nồng độ thủy ngân trong mẫu đất. Giới hạn xác định của phương pháp này ít nhất là 0,1 mg/kg, tức là có thể xác định được nồng độ thủy ngân với độ chính xác cao đến mức 0,1 mg/kg. Việc xác định thủy ngân trong đất cường thủy là rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng đất và mức độ ô nhiễm thủy ngân trong môi trường. Thủy ngân là một chất độc hại mà có thể gây hại cho sức khỏe con người và môi trường. Do đó, việc xác định nồng độ thủy ngân trong đất là một bước quan trọng để đảm bảo an toàn cho con người và môi trường sống.
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8882:2011 đã đưa ra các yêu cầu về phương pháp xác định thủy ngân trong đất cường thủy, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm thủy ngân và đảm bảo chất lượng đất. Việc áp dụng tiêu chuẩn này sẽ giúp cho việc xác định nồng độ thủy ngân trong đất trở nên chuẩn xác và đồng nhất, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đánh giá và quản lý chất lượng đất trên cả nước. Đồng thời, việc tương đương hoá với tiêu chuẩn quốc tế ISO 16772 cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia vào các hoạt động quốc tế và tăng cường sự giao lưu, hợp tác với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực chất lượng đất và môi trường.
Cảnh báo: Thủy ngân là một chất độc tính cao, do đó cần thực hiện các biện pháp an toàn khi xử lý thủy ngân và các dung dịch chứa thủy ngân. Việc ngăn chặn phát tán các hợp chất thủy ngân vào môi trường là điều cần thiết. Các phòng thí nghiệm xử lý thủy ngân và các hợp chất của nó phải tuân thủ các quy định về xử lý thủy ngân và hợp chất thủy ngân được đặt ra cả ở mức Quốc tế và Quốc gia.
Để đảm bảo an toàn trong quá trình xử lý thủy ngân, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát rủi ro. Các nhân viên thực hiện công việc liên quan đến thủy ngân phải được huấn luyện về quy trình làm việc an toàn và sử dụng các thiết bị bảo hộ cá nhân phù hợp. Việc sử dụng hệ thống thông gió hiệu quả và các thiết bị hút chân không cũng là một yếu tố quan trọng để hạn chế sự phát tán của hợp chất thủy ngân trong quá trình xử lý.
Các phòng thí nghiệm xử lý thủy ngân cần tuân thủ các qui định và quy định về quản lý chất thải nguy hại. Việc lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải thủy ngân phải tuân thủ theo các quy tắc an toàn và môi trường đặt ra bởi các tổ chức quốc tế và quốc gia. Đảm bảo rằng các chất thải thủy ngân được xử lý một cách an toàn và không gây ô nhiễm môi trường là mục tiêu cần đạt trong quá trình quản lý chất thải thủy ngân.
Ngoài ra, việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp xử lý thủy ngân an toàn và hiệu quả cũng là một yếu tố quan trọng. Đây là nhiệm vụ của cả cộng đồng quốc tế và quốc gia, nhằm tạo ra các công nghệ và quy trình xử lý thủy ngân dựa trên tiêu chuẩn an toàn và bền vững.
2. Quy định về chất lượng đất, xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy
Theo quy định tại Mục 5 của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8882:2011, về dụng cụ và thiết bị xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy, các yêu cầu sau đây được đưa ra:
- Dụng cụ thủy tinh trong phòng thí nghiệm thông thường:
Tất cả các dụng cụ thủy tinh hoặc chai PFA, FEP phải được làm sạch kỹ để xác định các nguyên tố vết liên quan. Một phương pháp là nhúng chúng vào dung dịch axit nitric 5% thể tích trong ít nhất 6 giờ, sau đó rửa sạch bằng nước trước khi sử dụng. Axit nitric phải được thay đổi hàng tuần. Dụng cụ thủy tinh với dung tích cấp B phải đáp ứng yêu cầu phân tích (tham khảo ISO 648 và ISO 1042).
- Thiết bị đo phổ hấp thụ nguyên tử (ASS):
Thiết bị này phải được trang bị đèn catốt rỗng thủy ngân hoặc đèn phóng điện không điện cực (đèn có cường độ sáng lớn hơn), và được điều chỉnh theo hướng dẫn của nhà sản xuất và thiết bị, cùng với một thiết bị hiệu chỉnh nền tự động.
- Thiết bị đo phổ huỳnh quang nguyên tử (AFS):
Thiết bị này phải được trang bị đèn thủy ngân đặc trưng, một bộ lọc cố định tại bước sóng 254 nm và một bộ dò huỳnh quang.
Thiết bị phải hoạt động theo hướng dẫn của nhà sản xuất đèn và thiết bị (tham khảo EN 13506).
- Máy phát hơi lạnh, hệ thống bể hoặc hệ thống phân tích phun dòng tự động (FIAS):
Máy này có thể được lắp vào thiết bị đo phổ hấp thụ nguyên tử (5.2) hoặc thiết bị đo phổ huỳnh quang nguyên tử (5.3), và sử dụng kỹ thuật phát hiện thủy ngân đã được sử dụng để xác định nồng độ.
Một dòng khí nitơ hoặc argon điều chỉnh có lưu lượng được sử dụng như một khí mang điều chỉnh thời gian để chuyển hơi thủy ngân vào trong ngăn. Cần bổ sung dung dịch khử thiếc (II) clorua (4.5) để điều chỉnh thời gian, kết hợp với việc tự động đọc tín hiệu của thiết bị đo phổ.
Hệ thống này phải có ngăn silic oxit có chiều dài quang ít nhất 10 cm hoặc hơn, với cửa sổ silic oxit phù hợp với thiết bị đo phổ hấp thụ nguyên tử (5.2) có sẵn trên thị trường.
Trong trường hợp này, ngăn silic oxit được làm nóng bằng điện đến nhiệt độ từ 50 đến 100 độ C để tránh sự ngưng tụ của nước. Đối với thiết bị đo phổ huỳnh quang nguyên tử (5.3),có thể tránh ngưng tụ trong ngăn silic oxit bằng cách sử dụng ống sấy thẩm thấu hiệu năng cao trong hệ thống cảm biến.
Trong trường hợp sử dụng hệ thống tự động, khi xảy ra phản ứng liên tiếp (FIAS), nồng độ của dung dịch khử thiếc (II) clorua, thời gian phản ứng và cấu trúc bộ tách pha khí-lỏng phải được tối ưu hóa do động năng phản ứng thấp của hệ thống khử.
Cảnh báo: Tuân thủ chặt chẽ các khuyến nghị an toàn từ nhà sản xuất khi làm việc với các dụng cụ và thiết bị xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho người sử dụng và tránh các rủi ro tiềm ẩn. Các khuyến nghị an toàn thông thường bao gồm:
- Đọc và hiểu kỹ hướng dẫn sử dụng từ nhà sản xuất trước khi sử dụng dụng cụ và thiết bị.
- Tuân thủ các quy tắc an toàn chung trong phòng thí nghiệm như đeo kính bảo hộ, áo bảo hộ và găng tay.
- Vận hành, bảo dưỡng và kiểm tra thiết bị theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Sử dụng các dung dịch và chất liệu phù hợp với yêu cầu và hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Lưu trữ và xử lý chất thải theo quy định về môi trường và an toàn.
3. Cách tính hàm lượng thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy ra sao?
Căn cứ vào quy định tại khoản 7.7 Mục 7 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8882:2011 về phương pháp xác định nồng độ thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy, quy trình được thực hiện như sau:
Đầu tiên, dựa vào đường hiệu chuẩn thu được, ta xác định nồng độ của nguyên tố tương ứng với tín hiệu của dung dịch thử và dung dịch thử trắng. Sau đó, tính toán hàm lượng thủy ngân, ký hiệu là w(Hg), trong mẫu đất. Đơn vị đo được sử dụng là miligam trên kilogam chất khô và được tính toán theo công thức sau:

Trong đó:
- w(Hg) là khối lượng của thủy ngân có trong mẫu đất, được tính bằng miligam trên kilogam chất khô.
- ρ1 là nồng độ thủy ngân, tính bằng microgam trên lít, tương ứng với tín hiệu của dung dịch thử (7.1).
- ρo là nồng độ thủy ngân, tính bằng microgam trên lít, tương ứng với tín hiệu của dung dịch thử trắng (7.2).
- f = 10 là hệ số pha loãng của dung dịch thử (7.1). Hệ số pha loãng này phụ thuộc vào khoảng đo của thiết bị sử dụng.
- V là dung tích của dung dịch cuối cùng được lấy để phân tích, được tính bằng lít (thông qua tiêu chuẩn ISO 11466), thường là 0,1 L.
- m là khối lượng của mẫu đất đã được xử lý sơ bộ theo tiêu chuẩn TCVN 6647 (ISO 11464), được tính bằng kilogam.
- C là hệ số hiệu chính đối với mẫu đất khô, với C = 100/wdm. Trong đó, wdm là hàm lượng chất khô của đất, tính bằng phần trăm (theo khối lượng) theo tiêu chuẩn TCVN 5963 (ISO 11465).
Qua quy trình trên, ta có thể xác định được hàm lượng thủy ngân trong mẫu đất theo tiêu chuẩn TCVN 8882:2011.
Xem thêm >> Mẫu báo cáo về việc nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu của sở tài nguyên môi trường
Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.